Phân Tích Giới Bổn

PTG 001 - CHƯƠNG VERAÑJA

Kính lễ đức Thế Tôn, bậc A‑la‑hán, đấng Chánh Biến Tri!

1. Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại Verañjā, ở cội cây Nimba của dạ xoa Naḷeru, cùng với đại chúng tỳ khưu có số lượng năm trăm vị tỳ khưu. Vị bà‑la‑môn Verañja đã nghe được rằng: “Chắc chắn là ngài Sa‑môn Gotama, con trai dòng Sākya (Thích Ca), từ dòng dõi Sākya đã xuất gia, và hiện ngự tại Verañjā, ở cội cây Nimba của dạ xoa Naḷeru cùng với đại chúng tỳ khưu có số lượng năm trăm vị tỳ khưu. Tiếng tăm tốt đẹp về ngài Gotama ấy đã được lan rộng ra như vầy: ‘Đức Thế Tôn ấy là bậc A‑la‑hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Tối Thượng Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’ Vị ấy sau khi tự mình chứng ngộ thắng trí đã công bố về thế gian này tính luôn cõi chư thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm thiên, cho đến dòng dõi sa‑môn, Bà‑la‑môn, chư thiên và loài người. Vị ấy thuyết giảng Giáo Pháp toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở đoạn giữa, và toàn hảo ở đoạn kết, thành tựu về ý nghĩa, thành tựu về văn tự. Vị ấy giảng giải về Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn và đầy đủ. Tốt thay cho việc diện kiến các vị A‑la‑hán như thế ấy!”

2. Sau đó, bà‑la‑môn Verañja đã đi đến gặp đức Thế Tôn. Sau khi đến, vị ấy đã tỏ vẻ thân thiện với đức Thế Tôn, sau khi trao đổi lời xã giao thân thiện đã ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, bà‑la‑môn Verañja đã nói với đức Thế Tôn điều này:

- Thưa ngài Gotama, tôi đã được nghe điều này: “Sa‑môn Gotama không cung kính, hoặc không đứng dậy, hoặc không mời chỗ ngồi đến các vị bà‑la‑môn già cả, uy tín, lớn tuổi, sống thọ, đã đạt đến giai đoạn cuối của cuộc đời.” Thưa ngài Gotama, điều ấy thật đúng như thế bởi vì ngài Gotama không cung kính, hoặc không đứng dậy, hoặc không mời chỗ ngồi đến các vị bà‑la‑môn già cả, uy tín, lớn tuổi, sống thọ, đã đạt đến giai đoạn cuối của cuộc đời. Thưa ngài Gotama, điều ấy thật không thích đáng!

- Này Bà‑la‑môn, trong thế gian tính luôn cõi chư thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm thiên, cho đến dòng dõi sa‑môn, Bà‑la‑môn, chư thiên và loài người, ta không thấy một ai mà ta có thể cung kính, hoặc có thể đứng dậy, hoặc có thể mời chỗ ngồi. Này Bà‑la‑môn, bởi vì nếu Như Lai cung kính, hoặc đứng dậy, hoặc mời chỗ ngồi người nào thì đầu của người ấy sẽ bị vỡ tan.

- Ngài Gotama không biết về phẩm chất!

- Này Bà‑la‑môn, thật sự có pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: “Sa‑môn Gotama không biết về phẩm chất.” Này Bà‑la‑môn, các phẩm chất về sắc, các phẩm chất về thinh, các phẩm chất về hương, các phẩm chất về vị, các phẩm chất về xúc, đối với Như Lai các việc ấy đã được diệt tận, các rễ đã được cắt lìa, như cây thốt nốt đã bị bứng gốc, đã bị làm cho không còn sự sống, không còn các điều kiện sanh khởi trong tương lai. Này Bà‑la‑môn, thật sự đây là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: “Sa‑môn Gotama không biết về phẩm chất;” và chắc chắn rằng ông không liên tưởng đến ý nghĩa ấy khi nói ra.

- Ngài Gotama không biết thưởng thức!

- Này Bà‑la‑môn, thật sự có pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: “Sa‑môn Gotama không biết thưởng thức.” Này Bà‑la‑môn, các sự thưởng thức về sắc, các sự thưởng thức về thinh, các sự thưởng thức về hương, các sự thưởng thức về vị, các sự thưởng thức về xúc, đối với Như Lai các việc ấy đã được diệt tận, các rễ đã được cắt lìa, như cây thốt nốt đã bị bứng gốc, đã bị làm cho không còn sự sống, không còn các điều kiện sanh khởi trong tương lai. Này Bà‑la‑môn, thật sự đây là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: “Sa‑môn Gotama không biết thưởng thức;” và chắc chắn rằng ông không liên tưởng đến ý nghĩa ấy khi nói ra.

- Ngài Gotama thuyết về không hành động!

- Này Bà‑la‑môn, thật sự có pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: “Sa‑môn Gotama thuyết về không hành động.” Này Bà‑la‑môn, bởi vì ta thuyết về không hành động đối với việc làm ác của thân, đối với lời nói ác của miệng, đối với suy nghĩ ác của ý; ta thuyết về không hành động của các pháp ác và bất thiện có nhiều dạng. Này Bà‑la‑môn, thật sự đây là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: “Sa‑môn Gotama thuyết về không hành động;” và chắc chắn rằng ông không liên tưởng đến ý nghĩa ấy khi nói ra.

- Ngài Gotama thuyết về đoạn diệt!

- Này Bà‑la‑môn, thật sự có pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: “Sa‑môn Gotama thuyết về đoạn diệt.” Này Bà‑la‑môn, bởi vì ta thuyết về sự đoạn diệt của luyến ái, của sân hận, của si mê; ta thuyết về sự đoạn diệt của các pháp ác và bất thiện có nhiều dạng. Này Bà‑la‑môn, thật sự đây là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: “Sa‑môn Gotama thuyết về đoạn diệt;” và chắc chắn rằng ông không liên tưởng đến ý nghĩa ấy khi nói ra.

- Ngài Gotama có sự ghê tởm!

- Này Bà‑la‑môn, thật sự có pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: “Sa‑môn Gotama có sự ghê tởm.” Này Bà‑la‑môn, bởi vì ta ghê tởm với việc làm ác của thân, với lời nói ác của miệng, với suy nghĩ ác của ý; ta ghê tởm trong sự tạo thành các pháp ác và bất thiện có nhiều dạng. Này Bà‑la‑môn, thật sự đây là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: “Sa‑môn Gotama có sự ghê tởm;” và chắc chắn rằng ông không liên tưởng đến ý nghĩa ấy khi nói ra.

- Ngài Gotama là người cách ly!

- Này Bà‑la‑môn, thật sự có pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: “Sa‑môn Gotama là người cách ly.” Này Bà‑la‑môn, bởi vì ta thuyết về pháp đưa đến sự cách ly đối với luyến ái, đối với sân, đối với si; ta thuyết về pháp đưa đến sự cách ly đối với các pháp ác và bất thiện có nhiều dạng. Này Bà‑la‑môn, thật sự đây là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: “Sa‑môn Gotama là người cách ly;” và chắc chắn rằng ông không liên tưởng đến ý nghĩa ấy khi nói ra.

- Ngài Gotama là người thiêu đốt!

- Này Bà‑la‑môn, thật sự có pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: “Sa‑môn Gotama là người thiêu đốt.” Này Bà‑la‑môn, ta thuyết rằng các pháp ác và bất thiện tức là việc làm ác của thân, lời nói ác của miệng, và suy nghĩ ác của ý cần được thiêu đốt. Này Bà‑la‑môn, người nào có các pháp ác và bất thiện cần được thiêu đốt đã được diệt tận, các rễ đã được cắt lìa, như cây thốt nốt đã bị bứng gốc, đã bị làm cho không còn sự sống, không còn các điều kiện sanh khởi trong tương lai; ta gọi người ấy là: “Người thiêu đốt.” Này Bà‑la‑môn, các pháp ác và bất thiện cần được thiêu đốt của Như Lai đã được diệt tận, các rễ đã được cắt lìa, như cây thốt nốt đã bị bứng gốc, đã bị làm cho không còn sự sống, không còn các điều kiện sanh khởi trong tương lai. Này Bà‑la‑môn, thật sự đây là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: “Sa‑môn Gotama là người thiêu đốt;” và chắc chắn rằng ông không liên tưởng đến ý nghĩa ấy khi nói ra.

- Ngài Gotama là người thoát khỏi bào thai!

- Này Bà‑la‑môn, thật sự có pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: “Sa‑môn Gotama là người thoát khỏi bào thai.” Này Bà‑la‑môn, sự sanh vào bào thai trong ngày vị lai của người nào, tức là sự tái sanh và hiện hữu lần nữa đã được diệt tận, các rễ đã được cắt lìa, như cây thốt nốt đã bị bứng gốc, đã bị làm cho không còn sự sống, không còn các điều kiện sanh khởi trong tương lai; ta gọi người ấy là: “Người thoát khỏi bào thai.” Này Bà‑la‑môn, sự sanh vào bào thai trong ngày vị lai của Như Lai, tức là sự tái sanh và hiện hữu lần nữa đã được diệt tận, các rễ đã được cắt lìa, như cây thốt nốt đã bị bứng gốc, đã bị làm cho không còn sự sống, không còn các điều kiện sanh khởi trong tương lai. Này Bà‑la‑môn, thật sự đây là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: “Sa‑môn Gotama là người thoát khỏi bào thai;” và chắc chắn rằng ông không liên tưởng đến ý nghĩa ấy khi nói ra.

3. Này Bà‑la‑môn, cũng giống như con gà mái có được tám, hoặc mười, hoặc mười hai quả trứng. Nếu con gà mái nằm lên trên chúng đúng cách, ủ nóng đều đúng cách, ấp đúng cách, và trong số các con gà con mới nở ấy, con nào dùng vuốt của móng chân hoặc mỏ phá vỡ vỏ trứng và nở ra an toàn trước tiên, thì điều nên nói về con gà con ấy là thế nào, lớn nhất hay nhỏ nhất?

- Thưa ngài Gotama, nên gọi nó là “Con lớn nhất” bởi vì nó lớn nhất trong bầy.

- Này Bà‑la‑môn, cũng tương tợ như thế trong số chúng sanh sống trong vô minh (ví như) đang ở trong quả trứng và bị trùm kín lại, ta là người duy nhất đã phá vỡ vỏ trứng vô minh và chứng đắc quả vị Chánh Đẳng Giác vô thượng ở trên đời. Này Bà‑la‑môn, ta đây là người đứng đầu và cao cả nhất của thế gian. Này Bà‑la‑môn, hơn nữa ta đã có sự nỗ lực được thành tựu không bị thối giảm, có niệm được thiết lập không bị xao lãng, có thân được khinh an không còn rạo rực, có tâm được an trụ tập trung. Này Bà‑la‑môn, quả vậy sau khi đã tách ly khỏi các dục và tách ly khỏi các pháp bất thiện, ta đây đã chứng đạt và trú thiền thứ nhất với hỷ và lạc sanh lên do tách ly (khỏi các triền cái), có tầm, có tứ. Do sự đình chỉ tầm và tứ, ta đã chứng đạt và trú thiền thứ hai với nội phần an tĩnh, tâm được chuyên nhất, có hỷ và lạc sanh lên do định, không tầm, không tứ. Và do sự không còn tham muốn ở hỷ, với xả ta đã trú, có niệm và tỉnh giác ta đã chứng nghiệm trạng thái lạc bằng thân, đó là điều mà các bậc Thánh nói rằng: “Vị ấy có xả, có niệm, có sự trú vào lạc;” ta đã chứng đạt và trú thiền thứ ba. Do sự từ bỏ lạc, do sự từ bỏ khổ (của thân), do sự trừ diệt hỷ và ưu ở tâm (đã có) trước đây, ta đã chứng đạt và trú thiền thứ tư với sự thanh tịnh của xả và niệm, không khổ không lạc.

Trong khi tâm được an trụ, thuần tịnh, trong sạch, không ô nhiễm, lìa khỏi phiền não, nhu thuận, có thể sử dụng, ổn định, đạt đến trạng thái vững chắc như thế, ta đây đã hướng dẫn tâm đến trí tuệ ghi nhớ về các kiếp sống trước (Túc Mạng Minh). Ta nhớ lại nhiều kiếp sống trước như là một lần sanh, hai lần sanh, ba lần sanh, bốn lần sanh, năm lần sanh, mười lần sanh, hai mươi lần sanh, ba mươi lần sanh, bốn mươi lần sanh, năm mươi lần sanh, một trăm lần sanh, một ngàn lần sanh, một trăm ngàn lần sanh, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp: “Vào kiếp sống ấy, ta đã có tên như vầy, dòng họ như vầy, giai cấp như vầy, thức ăn như vầy, kinh nghiệm khổ và lạc như vầy, có tuổi thọ như vầy. Từ chỗ ấy, ta đây đã chết đi rồi đã sanh lên tại chỗ kia. Ở nơi kia, ta đã có tên như vầy, dòng họ như vầy, giai cấp như vầy, thức ăn như vầy, kinh nghiệm khổ và lạc như vầy, có tuổi thọ như vầy. Từ nơi kia, ta đây đã chết đi rồi đã sanh lên tại nơi này.” Như thế, ta nhớ lại nhiều kiếp sống trước với các nét cá biệt và đại cương. Này Bà‑la‑môn, quả vậy vào canh đầu của đêm ta đã chứng đạt Minh thứ nhất này, ta đã diệt tận vô minh và làm cho minh sanh khởi, ta đã diệt tận bóng tối và làm cho ánh sáng sanh khởi. Như thế ấy là điều (ta đã thành đạt) trong lúc ta sống không dễ duôi, nỗ lực, quyết tâm. Này Bà‑la‑môn, chính điều này đã là sự khai mở đầu tiên của ta, tương tợ như con gà con thoát ra từ vỏ trứng vậy.

Trong khi tâm được an trụ, thuần tịnh, trong sạch, không ô nhiễm, lìa khỏi phiền não, nhu thuận, có thể sử dụng, ổn định, đã đạt đến trạng thái vững chắc như thế, ta đây đã hướng dẫn tâm đến trí tuệ (quán xét) về sự sanh tử của chúng sanh (Sanh Tử Minh). Ta đây nhìn thấy chúng sanh bằng thiên nhãn thuần tịnh vượt trội loài người, ta đây biết được rằng trong khi chết đi rồi sanh lại chúng sanh đều đi theo nghiệp tương ứng (trở thành) hạ tiện, cao quý, đẹp đẽ, xấu xí, đến chốn an vui, (hay) đọa vào cõi khổ: “Quả đúng như vậy, những chúng sanh đang hiện hữu (bhonto) này có hành động xấu xa bằng thân, có hành động xấu xa bằng lời nói, có suy nghĩ xấu xa bằng ý, vu khống các bậc Thánh, theo tà kiến, tán thành các hành động do tà kiến, khi tan rã thân xác và chết đi, họ bị sanh vào bất hạnh, cõi khổ, đọa xứ, địa ngục. Trái lại, những chúng sanh đang hiện hữu (bhonto) này có hành động tốt đẹp bằng thân, có hành động tốt đẹp bằng lời nói, có suy nghĩ tốt đẹp bằng ý, không vu khống các bậc Thánh, theo chánh kiến, tán thành các hành động do chánh kiến, khi tan rã thân xác và chết đi, họ được sanh vào chốn an vui, cõi trời, loài người.” Như thế, ta nhìn thấy chúng sanh bằng thiên nhãn thuần tịnh vượt trội loài người, ta đây biết được rằng trong khi chết đi rồi sanh lại chúng sanh đều đi theo nghiệp tương ứng (trở thành) hạ tiện, cao quý, đẹp đẽ, xấu xí, đến chốn an vui, (hay) đọa vào cõi khổ. Này Bà‑la‑môn, quả vậy vào canh giữa của đêm ta đã chứng đạt Minh thứ hai này, ta đã diệt tận vô minh và làm cho minh sanh khởi, ta đã diệt tận bóng tối và làm cho ánh sáng sanh khởi. Như thế ấy là điều (ta đã thành đạt) trong lúc ta sống không dễ duôi, nỗ lực, quyết tâm. Này Bà‑la‑môn, chính điều này đã là sự khai mở thứ hai của ta, tương tợ như con gà con thoát ra từ vỏ trứng vậy.

Trong khi tâm được an trụ, thuần tịnh, trong sạch, không ô nhiễm, lìa khỏi phiền não, nhu thuận, có thể sử dụng, ổn định, đã đạt đến trạng thái vững chắc như thế, ta đây đã hướng dẫn tâm đến trí tuệ đoạn tận các lậu hoặc (Lậu Tận Minh). Ta đây đã biết rõ: “Đây là Khổ” đúng theo bản thể thật. Ta đây đã biết rõ: “Đây là nguyên nhân của Khổ” đúng theo bản thể thật. Ta đây đã biết rõ: “Đây là sự Diệt Khổ” đúng theo bản thể thật. Ta đây đã biết rõ: “Đây là sự thực hành đưa đến sự Diệt Khổ” đúng theo bản thể thật. Ta đây đã biết rõ: “Đây là các lậu hoặc” đúng theo bản thể thật. Ta đây đã biết rõ: “Đây là nguyên nhân của các lậu hoặc” đúng theo bản thể thật. Ta đây đã biết rõ: “Đây là sự diệt tận các lậu hoặc” đúng theo bản thể thật. Ta đây đã biết rõ: “Đây là sự thực hành đưa đến sự diệt tận các lậu hoặc” đúng theo bản thể thật. Trong khi ta đây biết được như thế, thấy được như thế, thì tâm cũng đã được giải thoát khỏi dục lậu, tâm cũng đã được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm cũng đã được giải thoát khỏi vô minh lậu. Khi ta đã được giải thoát, trí tuệ giải thoát đã khởi lên và ta đã biết rõ rằng: “Sự tái sanh đã cạn kiệt, Phạm hạnh đã sống, việc cần làm đã làm, không còn (đưa đến) bản ngã nào khác (tương tợ) như vầy nữa.” Này Bà‑la‑môn, quả vậy vào canh cuối của đêm ta đã chứng đạt Minh thứ ba này, ta đã diệt tận vô minh và làm cho minh sanh khởi, ta đã diệt tận bóng tối và làm cho ánh sáng sanh khởi. Như thế ấy là điều (ta đã thành đạt) trong lúc ta sống không dễ duôi, nỗ lực, quyết tâm. Này Bà‑la‑môn, chính điều này đã là sự khai mở thứ ba của ta, tương tợ như con gà con thoát ra từ vỏ trứng vậy.

4. Khi được nói như thế, bà‑la‑môn Verañja đã nói với đức Thế Tôn điều này:

- Ngài Gotama là vị đứng đầu, ngài Gotama là người cao cả nhất. Bạch ngài Gotama, thật là tuyệt vời! Bạch ngài Gotama, thật là tuyệt vời! Bạch ngài Gotama, giống như người có thể lật ngửa vật đã được úp lại, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc lối, đem lại cây đèn dầu nơi bóng tối (nghĩ rằng): “Những người có mắt sẽ nhìn thấy được các hình dáng;” tương tợ như thế, Pháp đã được ngài Gotama giảng rõ bằng nhiều phương tiện. Tôi đây xin quy y ngài Gotama, Giáo Pháp, và Hội chúng tỳ khưu. Xin ngài Gotama chấp nhận tôi là nam cư sĩ đã được quy y kể từ hôm nay cho đến trọn đời. Xin ngài Gotama hãy nhận lời tôi về việc cư trú mùa mưa ở Verañjā cùng với hội chúng tỳ khưu.

Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Khi ấy, người bà‑la‑môn Verañja hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn nên đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.

5. Vào lúc bấy giờ, Verañjā có sự khó khăn về vật thực, đời sống khổ cực, dịch bệnh hoành hành, vật thực được phân phối theo thẻ, không dễ dàng sinh sống bằng sự ra sức khất thực.

Vào lúc bấy giờ, có những người buôn ngựa từ xứ Uttarāpatha đã đến cư trú mùa mưa ở Verañjā cùng với năm trăm con ngựa. Ở các bãi nhốt ngựa, họ có chuẩn bị từng phần (pattha) lúa mạch cho các vị tỳ khưu. Vào buổi sáng, các vị tỳ khưu mặc y cầm y bát rồi đi vào trong thành Verañjā để khất thực. Khi không nhận được đồ ăn khất thực, các vị đi đến khất thực ở các bãi nhốt ngựa và mang về tu viện (mỗi vị) một phần lúa mạch. Các vị giã đi giã lại trong cối giã rồi thọ dụng. Đại đức Ānanda nghiền phần lúa mạch ở tảng đá rồi dâng lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn thọ dụng thức ấy.

Quả vậy, đức Thế Tôn đã nghe tiếng cối giã. Các đấng Như Lai dầu biết vẫn hỏi, dầu biết các vị vẫn không hỏi, biết đúng thời các vị mới hỏi, biết đúng thời các vị vẫn không hỏi. Các đấng Như lai hỏi có liên quan đến lợi ích và không (hỏi việc) không có liên quan đến lợi ích, khi không có liên quan đến lợi ích các đấng Như Lai có cách để cắt đứt vấn đề. Chư Phật Thế Tôn hỏi các vị tỳ khưu bởi hai lý do: “Chúng ta sẽ thuyết Pháp hoặc sẽ quy định điều học cho các đệ tử.” Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo đại đức Ānanda rằng:

- Này Ānanda, tiếng cối giã ấy là gì vậy?

Khi ấy, đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này Ānanda, tốt lắm! Tốt lắm! Này Ānanda, (điều ấy) đã được khắc phục bởi các ngươi là những người hoàn thiện. Về sau này, con người sẽ chê bai cơm gạo sāli và thịt.

6. Sau đó, đại đức Mục Kiền Liên đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Mahāmoggallāna đã nói với đức Thế Tôn điều này:

- Bạch ngài, hiện nay Verañjā có sự khó khăn về vật thực, đời sống khổ cực, dịch bệnh hoành hành, vật thực được phân phối theo thẻ, không dễ dàng sinh sống bằng sự ra sức khất thực. Bạch ngài, bề mặt bên dưới của đại địa cầu này có chất như là mật ong, không cặn bã, và có hương vị y như thế. Bạch ngài, thật tốt thay nếu con lật ngửa quả địa cầu ra (để rồi) các tỳ khưu sẽ thọ dụng chất bổ dưỡng (ấy).

- Này Moggallāna, ngươi sẽ giải quyết thế nào về các chúng sanh sống ở quả địa cầu?

- Bạch ngài, con sẽ biến hoá một bàn tay trở thành giống như đại địa cầu và di chuyển chúng sanh sống ở quả địa cầu đến đó, rồi con sẽ lật ngửa quả địa cầu ra bằng cánh tay kia.

- Này Moggallāna, thôi đi. Ngươi chớ thích thú để lật ngửa quả địa cầu ra nữa khiến chúng sanh sẽ gánh chịu sự xáo trộn.

- Bạch ngài, thật tốt thay nếu tất cả hội chúng tỳ khưu có thể đi đến Uttarakuru để khất thực.

- Này Moggallāna, ngươi sẽ giải quyết thế nào về các tỳ khưu không có thần thông?

- Bạch ngài, bằng cách nào mà tất cả các tỳ khưu đều sẽ đi được thì con sẽ làm theo cách ấy.

- Này Moggallāna, thôi đi. Ngươi chớ thích thú đến việc đi đến Uttarakuru để khất thực của toàn bộ hội chúng tỳ khưu nữa.

7. Khi ấy, đại đức Xá Lợi Phất trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng có ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: “Phạm hạnh thời chư Phật Thế Tôn nào đã không tồn tại lâu dài? Phạm hạnh thời chư Phật Thế Tôn nào đã tồn tại lâu dài?” Sau đó vào lúc chiều tối, đại đức Sāriputta khi xuất khỏi thiền tịnh đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Sāriputta đã nói với đức Thế Tôn điều này:

- Bạch ngài, trường hợp con trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng có ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: “Phạm hạnh thời chư Phật Thế Tôn nào đã không tồn tại lâu dài? Phạm hạnh thời chư Phật Thế Tôn nào đã tồn tại lâu dài?”

- Này Sāriputta, Phạm hạnh thời đức Thế Tôn Vipassī, thời đức Thế Tôn Sikhī, và thời đức Thế Tôn Vessabhū đã không tồn tại lâu dài. Này Sāriputta, Phạm hạnh thời đức Thế Tôn Kakusandha, thời đức Thế Tôn Konāgamana, và thời đức Thế Tôn Kassapa đã tồn tại lâu dài.

- Bạch ngài, vậy do nhân gì, do duyên gì khiến Phạm hạnh thời đức Thế Tôn Vipassī, thời đức Thế Tôn Sikhī, và thời đức Thế Tôn Vessabhū đã không tồn tại lâu dài?

- Này Sāriputta, đức Thế Tôn Vipassī, đức Thế Tôn Sikhī, và đức Thế Tôn Vessabhū đã không nỗ lực để thuyết giảng Giáo Pháp một cách chi tiết đến các đệ tử và các vị ấy đã có ít suttaṃ, geyyaṃ, veyyākaraṇaṃ, gāthā, udānaṃ, itivuttakaṃ, jātakaṃ, abbhūtadhammaṃ, vedallaṃ. Điều học cho các đệ tử đã không được (các vị ấy) quy định và giới bổn Pātimokkha đã không được công bố. Với sự tịch diệt của chư Phật Thế Tôn ấy, với sự tịch diệt của các Thinh Văn đã được giác ngộ theo chư Phật (ấy), các vị đệ tử về sau này có tên khác nhau, có dòng họ khác nhau, có giai cấp khác nhau, từ gia tộc khác nhau đã xuất gia, các vị ấy đã khiến cho Phạm hạnh ấy biến mất thật nhanh chóng. Này Sāriputta, cũng giống như nhiều bông hoa khác nhau được đặt xuống ở trên tấm ván sàn và không được kết lại với nhau bằng sợi chỉ, cơn gió (sẽ) làm phân tán, làm tung toé, và hủy hoại chúng. Điều ấy có nguyên nhân thế nào? Này Sāriputta, giống như việc (các bông hoa) không được kết lại với nhau bằng sợi chỉ; này Sāriputta, tương tợ như thế với sự tịch diệt của chư Phật Thế Tôn ấy, với sự tịch diệt của các Thinh Văn đã được giác ngộ theo chư Phật (ấy), các vị đệ tử về sau này có tên khác nhau, có dòng họ khác nhau, có giai cấp khác nhau, từ gia tộc khác nhau đã xuất gia, các vị ấy đã khiến cho Phạm hạnh ấy biến mất thật nhanh chóng. Và chư Phật Thế Tôn ấy (chỉ) nỗ lực dùng tâm biết được tâm để giáo huấn các đệ tử. Này Sāriputta, trong thời quá khứ đức Thế Tôn, bậc A‑la‑hán, Chánh Đẳng Giác Vessabhū, ở trong khu rừng ghê rợn nọ, dùng tâm biết được tâm rồi giáo huấn và chỉ dạy hội chúng tỳ khưu một ngàn vị rằng: “Hãy suy tầm như vầy. Chớ suy tầm như thế. Hãy tác ý như vầy. Chớ tác ý như thế. Hãy từ bỏ điều này. Hãy thành tựu rồi an trú điều này.” Này Sāriputta, khi ấy trong lúc được đức Thế Tôn, bậc A‑la‑hán, Chánh Đẳng Giác Vessabhū giáo huấn như thế chỉ dạy như thế, các tâm của một ngàn vị tỳ khưu ấy đã không còn chấp thủ và đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc. Này Sāriputta, vào trường hợp ấy trong khi đã bị kinh sợ đối với khu rừng ghê rợn, người nào chưa dứt bỏ ái dục đi vào khu rừng ấy thì hầu hết các sợi lông sẽ dựng đứng lên. Này Sāriputta, đây là nhân đây là duyên khiến Phạm hạnh thời đức Thế Tôn Vipassī, thời đức Thế Tôn Sikhī, và thời đức Thế Tôn Vessabhū đã không tồn tại lâu dài.

- Bạch ngài, vậy do nhân gì, do duyên gì khiến Phạm hạnh thời đức Thế Tôn Kakusandha, thời đức Thế Tôn Konāgamana, và thời đức Thế Tôn Kassapa đã tồn tại lâu dài?

- Này Sāriputta, đức Thế Tôn Kakusandha, đức Thế Tôn Konāgamana, và đức Thế Tôn Kassapa đã nỗ lực để thuyết giảng Giáo Pháp một cách chi tiết đến các đệ tử và các vị ấy đã có nhiều suttaṃ, geyyaṃ, veyyākaraṇaṃ, gāthā, udānaṃ, itivuttakaṃ, jātakaṃ, abbhūtadhammaṃ, vedallaṃ. Điều học cho các Thinh Văn đã được (các vị ấy) quy định và giới bổn Pātimokkha đã được công bố. Với sự tịch diệt của chư Phật Thế Tôn ấy, với sự tịch diệt của các Thinh Văn đã được giác ngộ theo chư Phật (ấy), các vị đệ tử về sau này có tên khác nhau, có dòng họ khác nhau, có giai cấp khác nhau, từ gia tộc khác nhau đã xuất gia, các vị ấy đã duy trì Phạm hạnh ấy lâu dài và trường cửu. Này Sāriputta, cũng giống như nhiều bông hoa khác nhau được đặt xuống ở trên tấm ván sàn và được kết lại với nhau bằng sợi chỉ, cơn gió (sẽ) không làm phân tán, không làm tung toé, và không hủy hoại chúng. Điều ấy có nguyên nhân thế nào? Này Sāriputta, giống như việc (các bông hoa) được kết lại với nhau bằng sợi chỉ; này Sāriputta, tương tợ như thế với sự tịch diệt của chư Phật Thế Tôn ấy, với sự tịch diệt của các Thinh Văn đã được giác ngộ theo chư Phật (ấy), các vị đệ tử về sau này có tên khác nhau, có dòng họ khác nhau, có giai cấp khác nhau, từ gia tộc khác nhau đã xuất gia, các vị ấy đã duy trì Phạm hạnh ấy lâu dài và trường cửu. Này Sāriputta, đây là nhân, đây là duyên khiến Phạm hạnh thời đức Thế Tôn Kakusandha, thời đức Thế Tôn Konāgamana, và thời đức Thế Tôn Kassapa đã tồn tại lâu dài.

8. Sau đó, đại đức Sāriputta đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y một bên vai, chắp tay hướng về đức Thế Tôn, và đã nói với đức Thế Tôn điều này:

- Bạch Thế Tôn, nay là thời điểm của việc ấy. Bạch Thiện Thệ, nay là thời điểm của việc ấy, (tức là thời điểm) đức Thế Tôn nên quy định điều học cho các đệ tử, nên công bố giới bổn Pātimokkha; như thế Phạm hạnh này có thể được tiếp tục và tồn tại lâu dài.

- Này Sāriputta, ngươi hãy chờ đợi! Này Sāriputta, ngươi hãy chờ đợi! Trong trường hợp ấy, chỉ có Như Lai mới biết thời điểm. Này Sāriputta, cho đến khi nào một số pháp đưa đến lậu hoặc chưa xuất hiện trong hội chúng này thì cho đến khi ấy bậc Đạo Sư chưa quy định điều học và công bố giới bổn Pātimokkha cho các đệ tử. Này Sāriputta, chính bởi vì một số pháp đưa đến lậu hoặc xuất hiện trong hội chúng này nên bậc Đạo Sư quy định điều học và công bố giới bổn Pātimokkha cho các đệ tử nhằm diệt trừ chính các pháp đưa đến lậu hoặc ấy. Này Sāriputta, cho đến khi nào hội chúng chưa đạt đến sự lớn mạnh về số lượng thì cho đến khi ấy một số pháp đưa đến lậu hoặc chưa xuất hiện trong hội chúng này. Này Sāriputta, chính bởi vì hội chúng đạt đến sự đông đảo về số lượng nên một số pháp đưa đến lậu hoặc xuất hiện trong hội chúng này, nên bậc Đạo Sư quy định điều học và công bố giới bổn Pātimokkha cho các đệ tử nhằm diệt trừ chính các pháp đưa đến lậu hoặc ấy. Này Sāriputta, cho đến khi nào hội chúng chưa đạt đến sự lớn mạnh về việc phát triển thì cho đến khi ấy một số pháp đưa đến lậu hoặc chưa xuất hiện trong hội chúng này. Này Sāriputta, chính bởi vì hội chúng đạt đến sự lớn mạnh về việc phát triển nên một số pháp đưa đến lậu hoặc xuất hiện trong hội chúng này, nên bậc Đạo Sư quy định điều học và công bố giới bổn Pātimokkha cho các đệ tử nhằm diệt trừ chính các pháp đưa đến lậu hoặc ấy. Này Sāriputta, cho đến khi nào hội chúng chưa đạt đến sự dồi dào về lợi lộc thì cho đến khi ấy một số pháp đưa đến lậu hoặc chưa xuất hiện trong hội chúng này. Này Sāriputta, chính bởi vì hội chúng đạt đến sự dồi dào về lợi lộc nên một số pháp đưa đến lậu hoặc xuất hiện trong hội chúng này, nên bậc Đạo Sư quy định điều học và công bố giới bổn Pātimokkha cho các đệ tử nhằm diệt trừ chính các pháp đưa đến lậu hoặc ấy. Này Sāriputta, cho đến khi nào hội chúng chưa đạt đến sự lớn mạnh về việc học nhiều thì cho đến khi ấy một số pháp đưa đến lậu hoặc chưa xuất hiện trong hội chúng này. Này Sāriputta, chính bởi vì hội chúng đạt đến sự lớn mạnh về việc học nhiều nên một số pháp đưa đến lậu hoặc xuất hiện trong hội chúng này, nên bậc Đạo Sư quy định điều học và công bố giới bổn Pātimokkha cho các đệ tử nhằm diệt trừ chính các pháp đưa đến lậu hoặc ấy. Này Sāriputta, bởi vì hội chúng tỳ khưu không có ô nhiễm, không có tội lỗi, có ác pháp đã lìa, được thanh tịnh, trong sạch, đã an trú vào mục đích. Này Sāriputta, bởi vì trong số năm trăm tỳ khưu này, vị tỳ khưu thấp nhất (đã) là vị Nhập Lưu, không còn pháp bị đọa, được bền vững, và hướng đến sự giác ngộ.

9. Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo đại đức Ānanda rằng:

- Này Ānanda, điều này đã trở thành thông lệ của các đấng Như Lai là khi các vị cư trú mùa mưa do những ai đã thỉnh mời thì các vị không ra đi du hành trong xứ sở khi chưa thông báo cho những người ấy. Này Ānanda, chúng ta sẽ thông báo cho bà‑la‑môn Verañja này.

- Bạch ngài, xin vâng. Đại đức Ānanda đã đáp lời đức Thế Tôn.

Sau đó, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát cùng với đại đức Ānanda là sa‑môn thị giả đi đến tư gia của bà‑la‑môn Verañja, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Khi ấy, bà‑la‑môn Verañja đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Đức Thế Tôn đã nói với bà‑la‑môn Verañja đang ngồi một bên điều này:

- Này Bà‑la‑môn, do được ông thỉnh mời chúng tôi đã trải qua mùa (an cư) mưa. Giờ chúng tôi thông báo ông rằng chúng tôi muốn ra đi du hành trong xứ sở.

- Bạch ngài Gotama, sự thật là các vị đã được tôi thỉnh mời và đã trải qua mùa (an cư) mưa. Tuy nhiên, việc cúng dường chưa được dâng cúng. Và điều ấy không phải là không có vật bố thí cũng không phải là không có lòng bố thí. Trong trường hợp này, điều ấy làm sao có thể đạt được khi cuộc sống tại gia có nhiều phận sự và có nhiều việc cần phải làm? Xin ngài Gotama nhận lời buổi trai phạn của tôi vào ngày mai cùng với hội chúng tỳ khưu.

Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Sau đó, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho bà‑la‑môn Verañja bằng bài Pháp thoại, rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy, và ra đi.

Sau đó, khi trải qua đêm ấy bà‑la‑môn Verañja đã cho chuẩn bị sẵn sàng thức ăn thượng hạng loại cứng loại mềm tại tư gia của mình rồi cho người thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn rằng:

- Bạch ngài Gotama, đã đến giờ. Thức ăn đã chuẩn bị xong.

Khi ấy vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y cầm y bát đi đến tư gia của bà‑la‑môn Verañja, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn cùng với hội chúng tỳ khưu. Sau đó, bà‑la‑môn Verañja đã tự tay làm hài lòng và thỏa mãn hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu với thức ăn thượng hạng loại cứng loại mềm. Đến khi đức Thế Tôn đã thọ thực xong bàn tay đã rời khỏi bình bát, bà‑la‑môn Verañja đã choàng lên đức Thế Tôn với ba y và choàng lên mỗi một vị tỳ khưu với một xấp vải đôi. Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho bà‑la‑môn Verañja bằng bài Pháp thoại, rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy, và ra đi.

Sau đó, khi đã ngụ tại Verañjā theo như ý thích, đức Thế Tôn đã đi dọc theo Soreyya, Saṅkassa, Kaṇṇakujja, và đến được bến đò Payāga. Sau khi đến nơi, ngài đã vượt qua sông Gaṅgā tại bến đò Payāga và ngự đến thành Ba‑la‑nại. Sau đó, khi đã ngụ tại thành Bārāṇasī theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành đến thành Vệ Xá. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến thành Vesālī. Tại nơi ấy, trong thành Vesālī, đức Thế Tôn đã ngụ tại Đại Lâm, nơi giảng đường Kūṭāgāra.

Dứt tụng phẩm Verañja.

Tỳ khưu Indacanda

1. Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại Verañjā, ở cội cây Nimba của dạ xoa Naḷeru, cùng với đại chúng tỳ khưu có số lượng năm trăm vị tỳ khưu. Vị bà-la-môn Verañja đã nghe được rằng: “Chắc chắn là ngài Sa-môn Gotama, con trai dòng Sākya (Thích Ca), từ dòng dõi Sākya đã xuất gia, và hiện ngự tại Verañjā, ở cội cây...

Mục lục

  1. Phân Tích Giới Tỳ-khưu I
    1. PTG 001 - CHƯƠNG VERAÑJA
    2. I. Chương Bất Cộng Trụ thứ nhất: Tội thực hiện việc đôi lứa
      1. PTG 002 - I. CHƯƠNG BẤT CỘNG TRỤ THỨ NHẤT - ĐOẠN 10-22
      2. PTG 002 - I. CHƯƠNG BẤT CỘNG TRỤ THỨ NHẤT - ĐOẠN 23-47
      3. PTG 002 - I. CHƯƠNG BẤT CỘNG TRỤ THỨ NHẤT - ĐOẠN 48-78
    3. II. Chương Bất Cộng Trụ thứ nhì: Tội trộm cắp
      1. PTG 003 - II. CHƯƠNG BẤT CỘNG TRỤ THỨ NHÌ - ĐOẠN 79-84
      2. PTG 003 - II. CHƯƠNG BẤT CỘNG TRỤ THỨ NHÌ - ĐOẠN 85-125
      3. PTG 003 - II. CHƯƠNG BẤT CỘNG TRỤ THỨ NHÌ - ĐOẠN 126-175
    4. III. Chương Bất Cộng Trụ thứ ba: Tội giết người
      1. PTG 004 - III. CHƯƠNG BẤT CỘNG TRỤ THỨ BA - ĐOẠN 176-203
      2. PTG 004 - III. CHƯƠNG BẤT CỘNG TRỤ THỨ BA - ĐOẠN 204-226
    5. IV. Chương Bất Cộng Trụ thứ tư: Tội khoe pháp thượng nhân không thực chứng
      1. PTG 005 - IV. CHƯƠNG BẤT CỘNG TRỤ THỨ TƯ - ĐOẠN 227-254
      2. PTG 005 - IV. CHƯƠNG BẤT CỘNG TRỤ THỨ TƯ - ĐOẠN 255-281
      3. PTG 005 - IV. CHƯƠNG BẤT CỘNG TRỤ THỨ TƯ - ĐOẠN 282-300
    6. V. Chương Mười ba pháp
      1. Điều Tăng Tàng thứ nhất
        1. PTG 007 - ĐIỀU TĂNG TÀNG THỨ NHẤT - ĐOẠN 301-344
        2. PTG 007 - ĐIỀU TĂNG TÀNG THỨ NHẤT - ĐOẠN 345-376
      2. PTG 008 - ĐIỀU TĂNG TÀNG THỨ NHÌ
      3. PTG 009 - ĐIỀU TĂNG TÀNG THỨ BA
      4. PTG 010 - ĐIỀU TĂNG TÀNG THỨ TƯ
      5. Điều Tăng Tàng thứ năm
        1. PTG 011 - ĐIỀU TĂNG TÀNG THỨ NĂM - ĐOẠN 423-446
        2. PTG 011 - ĐIỀU TĂNG TÀNG THỨ NĂM - ĐOẠN 447-495
      6. Điều Tăng Tàng thứ sáu
        1. PTG 012 - ĐIỀU TĂNG TÀNG THỨ SÁU - ĐOẠN 496-510
        2. PTG 012 - ĐIỀU TĂNG TÀNG THỨ SÁU - ĐOẠN 511-522
      7. PTG 013 - ĐIỀU TĂNG TÀNG THỨ BẢY
      8. PTG 014 - ĐIỀU TĂNG TÀNG THỨ TÁM
      9. PTG 015 - ĐIỀU TĂNG TÀNG THỨ CHÍN
      10. PTG 016 - ĐIỀU TĂNG TÀNG THỨ MƯỜI
      11. PTG 017 - ĐIỀU TĂNG TÀNG THỨ MƯỜI MỘT
      12. PTG 018 - ĐIỀU TĂNG TÀNG THỨ MƯỜI HAI
      13. PTG 019 - ĐIỀU TĂNG TÀNG THỨ MƯỜI BA
    7. VI. Chương Bất Định
      1. PTG 021 - ĐIỀU BẤT ĐỊNH THỨ NHẤT
      2. PTG 022 - ĐIỀU BẤT ĐỊNH THỨ NHÌ
  2. Phân Tích Giới Tỳ-khưu II
    1. VII. Chương Ưng Xả Đối Trị
      1. Phần Y
        1. PTG 024 - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT
        2. PTG 025 - ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ
        3. PTG 026 - ĐIỀU HỌC THỨ BA
        4. PTG 027 - ĐIỀU HỌC THỨ TƯ
        5. PTG 028 - ĐIỀU HỌC THỨ NĂM
        6. PTG 029 - ĐIỀU HỌC THỨ SÁU
        7. PTG 030 - ĐIỀU HỌC THỨ BẢY
        8. PTG 031 - ĐIỀU HỌC THỨ TÁM
        9. PTG 032 - ĐIỀU HỌC THỨ CHÍN
        10. PTG 033 - ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI
      2. Phần Tơ Tằm
        1. PTG 034 - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT
        2. PTG 035 - ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ
        3. PTG 036 - ĐIỀU HỌC THỨ BA
        4. PTG 037 - ĐIỀU HỌC THỨ TƯ
        5. PTG 038 - ĐIỀU HỌC THỨ NĂM
        6. PTG 039 - ĐIỀU HỌC THỨ SÁU
        7. PTG 040 - ĐIỀU HỌC THỨ BẢY
        8. PTG 041 - ĐIỀU HỌC THỨ TÁM
        9. PTG 042 - ĐIỀU HỌC THỨ CHÍN
        10. PTG 043 - ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI
      3. Phần Bình Bát
        1. PTG 044 - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT
        2. PTG 045 - ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ
        3. PTG 046 - ĐIỀU HỌC THỨ BA
        4. PTG 047 - ĐIỀU HỌC THỨ TƯ
        5. PTG 048 - ĐIỀU HỌC THỨ NĂM
        6. PTG 049 - ĐIỀU HỌC THỨ SÁU
        7. PTG 050 - ĐIỀU HỌC THỨ BẢY
        8. PTG 051 - ĐIỀU HỌC THỨ TÁM
        9. PTG 052 - ĐIỀU HỌC THỨ CHÍN
        10. PTG 053 - ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI
    2. VIII. Chương Ưng Đối Trị
      1. Phần Nói Dối
        1. PTG 055 - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT
        2. PTG 056 - ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ
        3. PTG 057 - ĐIỀU HỌC THỨ BA
        4. PTG 058 - ĐIỀU HỌC THỨ TƯ
        5. PTG 059 - ĐIỀU HỌC THỨ NĂM
        6. PTG 060 - ĐIỀU HỌC THỨ SÁU
        7. PTG 061 - ĐIỀU HỌC THỨ BẢY
        8. PTG 062 - ĐIỀU HỌC THỨ TÁM
        9. PTG 063 - ĐIỀU HỌC THỨ CHÍN
        10. PTG 064 - ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI
      2. Phần Thảo Mộc
        1. PTG 065 - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT
        2. PTG 066 - ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ
        3. PTG 067 - ĐIỀU HỌC THỨ BA
        4. PTG 068 - ĐIỀU HỌC THỨ TƯ
        5. PTG 069 - ĐIỀU HỌC THỨ NĂM
        6. PTG 070 - ĐIỀU HỌC THỨ SÁU
        7. PTG 071 - ĐIỀU HỌC THỨ BẢY
        8. PTG 072 - ĐIỀU HỌC THỨ TÁM
        9. PTG 073 - ĐIỀU HỌC THỨ CHÍN
        10. PTG 074 - ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI
      3. Phần Giáo Giới
        1. PTG 075 - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT
        2. PTG 076 - ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ
        3. PTG 077 - ĐIỀU HỌC THỨ BA
        4. PTG 078 - ĐIỀU HỌC THỨ TƯ
        5. PTG 079 - ĐIỀU HỌC THỨ NĂM
        6. PTG 080 - ĐIỀU HỌC THỨ SÁU
        7. PTG 081 - ĐIỀU HỌC THỨ BẢY
        8. PTG 082 - ĐIỀU HỌC THỨ TÁM
        9. PTG 083 - ĐIỀU HỌC THỨ CHÍN
        10. PTG 084 - ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI
      4. Phần Vật Thực
        1. PTG 085 - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT
        2. PTG 086 - ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ
        3. PTG 087 - ĐIỀU HỌC THỨ BA
        4. PTG 088 - ĐIỀU HỌC THỨ TƯ
        5. PTG 089 - ĐIỀU HỌC THỨ NĂM
        6. PTG 090 - ĐIỀU HỌC THỨ SÁU
        7. PTG 091 - ĐIỀU HỌC THỨ BẢY
        8. PTG 092 - ĐIỀU HỌC THỨ TÁM
        9. PTG 093 - ĐIỀU HỌC THỨ CHÍN
        10. PTG 094 - ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI
      5. Phần Đạo Sĩ Lõa Thể
        1. PTG 095 - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT
        2. PTG 096 - ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ
        3. PTG 097 - ĐIỀU HỌC THỨ BA
        4. PTG 098 - ĐIỀU HỌC THỨ TƯ
        5. PTG 099 - ĐIỀU HỌC THỨ NĂM
        6. PTG 100 - ĐIỀU HỌC THỨ SÁU
        7. PTG 101 - ĐIỀU HỌC THỨ BẢY
        8. PTG 102 - ĐIỀU HỌC THỨ TÁM
        9. PTG 103 - ĐIỀU HỌC THỨ CHÍN
        10. PTG 104 - ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI
      6. Phần Uống Rượu
        1. PTG 105 - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT
        2. PTG 106 - ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ
        3. PTG 107 - ĐIỀU HỌC THỨ BA
        4. PTG 108 - ĐIỀU HỌC THỨ TƯ
        5. PTG 109 - ĐIỀU HỌC THỨ NĂM
        6. PTG 110 - ĐIỀU HỌC THỨ SÁU
        7. PTG 111 - ĐIỀU HỌC THỨ BẢY
        8. PTG 112 - ĐIỀU HỌC THỨ TÁM
        9. PTG 113 - ĐIỀU HỌC THỨ CHÍN
        10. PTG 114 - ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI
      7. Phần Có Sinh Vật
        1. PTG 115 - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT
        2. PTG 116 - ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ
        3. PTG 117 - ĐIỀU HỌC THỨ BA
        4. PTG 118 - ĐIỀU HỌC THỨ TƯ
        5. PTG 119 - ĐIỀU HỌC THỨ NĂM
        6. PTG 120 - ĐIỀU HỌC THỨ SÁU
        7. PTG 121 - ĐIỀU HỌC THỨ BẢY
        8. PTG 122 - ĐIỀU HỌC THỨ TÁM
        9. PTG 123 - ĐIỀU HỌC THỨ CHÍN
        10. PTG 124 - ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI
      8. Phần Theo Pháp
        1. PTG 125 - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT
        2. PTG 126 - ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ
        3. PTG 127 - ĐIỀU HỌC THỨ BA
        4. PTG 128 - ĐIỀU HỌC THỨ TƯ
        5. PTG 129 - ĐIỀU HỌC THỨ NĂM
        6. PTG 130 - ĐIỀU HỌC THỨ SÁU
        7. PTG 131 - ĐIỀU HỌC THỨ BẢY
        8. PTG 132 - ĐIỀU HỌC THỨ TÁM
        9. PTG 133 - ĐIỀU HỌC THỨ CHÍN
        10. PTG 134 - ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI
        11. PTG 135 - ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI MỘT
        12. PTG 136 - ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI HAI
      9. Phần Báu Vật
        1. PTG 137 - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT
        2. PTG 138 - ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ
        3. PTG 139 - ĐIỀU HỌC THỨ BA
        4. PTG 140 - ĐIỀU HỌC THỨ TƯ
        5. PTG 141 - ĐIỀU HỌC THỨ NĂM
        6. PTG 142 - ĐIỀU HỌC THỨ SÁU
        7. PTG 143 - ĐIỀU HỌC THỨ BẢY
        8. PTG 144 - ĐIỀU HỌC THỨ TÁM
        9. PTG 145 - ĐIỀU HỌC THỨ CHÍN
        10. PTG 146 - ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI
    3. IX. Chương Ưng Phát Lộ
      1. PTG 148 - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT
      2. PTG 149 - ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ
      3. PTG 150 - ĐIỀU HỌC THỨ BA
      4. PTG 151 - ĐIỀU HỌC THỨ TƯ
    4. X. Chương Ưng Học Pháp
      1. PTG 152 - X. CHƯƠNG ƯNG HỌC
      2. PTG 152 - X. CHƯƠNG ƯNG HỌC - 5. PHẦN VẮT CƠM
    5. PTG 153 - XI. CÁC PHÁP DÀN XẾP TRANH TỤNG
  3. Phân Tích Giới Tỳ-khưu Ni
    1. I. Chương Bất Cộng Trụ
      1. PTG 155 - ĐIỀU BẤT CỘNG TRỤ THỨ NHẤT
      2. PTG 156 - ĐIỀU BẤT CỘNG TRỤ THỨ NHÌ
      3. PTG 157 - ĐIỀU BẤT CỘNG TRỤ THỨ BA
      4. PTG 158 - ĐIỀU BẤT CỘNG TRỤ THỨ TƯ
    2. II. Chương Mười Bảy Pháp
      1. PTG 160 - ĐIỀU TĂNG TÀNG THỨ NHẤT
      2. PTG 161 - ĐIỀU TĂNG TÀNG THỨ NHÌ
      3. PTG 162 - ĐIỀU TĂNG TÀNG THỨ BA
      4. PTG 163 - ĐIỀU TĂNG TÀNG THỨ TƯ
      5. PTG 164 - ĐIỀU TĂNG TÀNG THỨ NĂM
      6. PTG 165 - ĐIỀU TĂNG TÀNG THỨ SÁU
      7. PTG 166 - ĐIỀU TĂNG TÀNG THỨ BẢY
      8. PTG 167 - ĐIỀU TĂNG TÀNG THỨ TÁM
      9. PTG 168 - ĐIỀU TĂNG TÀNG THỨ CHÍN
      10. PTG 169 - ĐIỀU TĂNG TÀNG THỨ MƯỜI
    3. III. Chương Ưng Xả Đối Trị
      1. Phần Bình Bát
        1. PTG 171 - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT
        2. PTG 172 - ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ
        3. PTG 173 - ĐIỀU HỌC THỨ BA
        4. PTG 174 - ĐIỀU HỌC THỨ TƯ
        5. PTG 175 - ĐIỀU HỌC THỨ NĂM
        6. PTG 176 - ĐIỀU HỌC THỨ SÁU
        7. PTG 177 - ĐIỀU HỌC THỨ BẢY
        8. PTG 178 - ĐIỀU HỌC THỨ TÁM
        9. PTG 179 - ĐIỀU HỌC THỨ CHÍN
        10. PTG 180 - ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI
      2. Phần Y
        1. PTG 181 - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT
        2. PTG 182 - ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ
    4. IV. Chương Ưng Đối Trị
      1. Phần Tỏi
        1. PTG 184 - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT
        2. PTG 185 - ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ
        3. PTG 186 - ĐIỀU HỌC THỨ BA
        4. PTG 187 - ĐIỀU HỌC THỨ TƯ
        5. PTG 188 - ĐIỀU HỌC THỨ NĂM
        6. PTG 189 - ĐIỀU HỌC THỨ SÁU
        7. PTG 190 - ĐIỀU HỌC THỨ BẢY
        8. PTG 191 - ĐIỀU HỌC THỨ TÁM
        9. PTG 192 - ĐIỀU HỌC THỨ CHÍN
        10. PTG 193 - ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI
      2. Phần Bóng Tối
        1. PTG 194 - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT
        2. PTG 195 - ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ
        3. PTG 196 - ĐIỀU HỌC THỨ BA
        4. PTG 197 - ĐIỀU HỌC THỨ TƯ
        5. PTG 198 - ĐIỀU HỌC THỨ NĂM
        6. PTG 199 - ĐIỀU HỌC THỨ SÁU
        7. PTG 200 - ĐIỀU HỌC THỨ BẢY
        8. PTG 201 - ĐIỀU HỌC THỨ TÁM
        9. PTG 202 - ĐIỀU HỌC THỨ CHÍN
        10. PTG 203 - ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI
      3. Phần Lõa Thể
        1. PTG 204 - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT
        2. PTG 205 - ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ
        3. PTG 206 - ĐIỀU HỌC THỨ BA
        4. PTG 207 - ĐIỀU HỌC THỨ TƯ
        5. PTG 208 - ĐIỀU HỌC THỨ NĂM
        6. PTG 209 - ĐIỀU HỌC THỨ SÁU
        7. PTG 210 - ĐIỀU HỌC THỨ BẢY
        8. PTG 211 - ĐIỀU HỌC THỨ TÁM
        9. PTG 212 - ĐIỀU HỌC THỨ CHÍN
        10. PTG 213 - ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI
      4. Phần Dùng Chung
        1. PTG 214 - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT
        2. PTG 215 - ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ
        3. PTG 216 - ĐIỀU HỌC THỨ BA
        4. PTG 217 - ĐIỀU HỌC THỨ TƯ
        5. PTG 218 - ĐIỀU HỌC THỨ NĂM
        6. PTG 219 - ĐIỀU HỌC THỨ SÁU
        7. PTG 220 - ĐIỀU HỌC THỨ BẢY
        8. PTG 221 - ĐIỀU HỌC THỨ TÁM
        9. PTG 222 - ĐIỀU HỌC THỨ CHÍN
        10. PTG 223 - ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI
      5. Phần Nhà Triển Lãm Tranh
        1. PTG 224 - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT
        2. PTG 225 - ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ
        3. PTG 226 - ĐIỀU HỌC THỨ BA
        4. PTG 227 - ĐIỀU HỌC THỨ TƯ
        5. PTG 228 - ĐIỀU HỌC THỨ NĂM
        6. PTG 229 - ĐIỀU HỌC THỨ SÁU
        7. PTG 230 - ĐIỀU HỌC THỨ BẢY
        8. PTG 231 - ĐIỀU HỌC THỨ TÁM
        9. PTG 232 - ĐIỀU HỌC THỨ CHÍN
        10. PTG 233 - ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI
      6. Phần Tu Viện
        1. PTG 234 - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT
        2. PTG 235 - ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ
        3. PTG 236 - ĐIỀU HỌC THỨ BA
        4. PTG 237 - ĐIỀU HỌC THỨ TƯ
        5. PTG 238 - ĐIỀU HỌC THỨ NĂM
        6. PTG 239 - ĐIỀU HỌC THỨ SÁU
        7. PTG 240 - ĐIỀU HỌC THỨ BẢY
        8. PTG 241 - ĐIỀU HỌC THỨ TÁM
        9. PTG 242 - ĐIỀU HỌC THỨ CHÍN
        10. PTG 243 - ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI
      7. Phần Sản Phụ
        1. PTG 244 - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT
        2. PTG 245 - ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ
        3. PTG 246 - ĐIỀU HỌC THỨ BA
        4. PTG 247 - ĐIỀU HỌC THỨ TƯ
        5. PTG 248 - ĐIỀU HỌC THỨ NĂM
        6. PTG 249 - ĐIỀU HỌC THỨ SÁU
        7. PTG 250 - ĐIỀU HỌC THỨ BẢY
        8. PTG 251 - ĐIỀU HỌC THỨ TÁM
        9. PTG 252 - ĐIỀU HỌC THỨ CHÍN
        10. PTG 253 - ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI
      8. Phần Thiếu Nữ
        1. PTG 254 - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT
        2. PTG 255 - ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ
        3. PTG 256 - ĐIỀU HỌC THỨ BA
        4. PTG 257 - ĐIỀU HỌC THỨ TƯ
        5. PTG 258 - ĐIỀU HỌC THỨ NĂM
        6. PTG 259 - ĐIỀU HỌC THỨ SÁU
        7. PTG 260 - ĐIỀU HỌC THỨ BẢY
        8. PTG 261 - ĐIỀU HỌC THỨ TÁM
        9. PTG 262 - ĐIỀU HỌC THỨ CHÍN
        10. PTG 263 - ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI
        11. PTG 264 - ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI MỘT
        12. PTG 265 - ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI HAI
        13. PTG 266 - ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI BA
      9. Phần Dù Dép
        1. PTG 267 - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT
        2. PTG 268 - ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ
        3. PTG 269 - ĐIỀU HỌC THỨ BA
        4. PTG 270 - ĐIỀU HỌC THỨ TƯ
        5. PTG 271 - ĐIỀU HỌC THỨ NĂM
        6. PTG 272 - ĐIỀU HỌC THỨ SÁU
        7. PTG 273 - ĐIỀU HỌC THỨ BẢY
        8. PTG 274 - ĐIỀU HỌC THỨ TÁM-CHÍN-MƯỜI
        9. PTG 275 - ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI MỘT
        10. PTG 276 - ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI HAI
        11. PTG 277 - ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI BA
    5. PTG 278 - V. CHƯƠNG ƯNG PHÁT LỘ
    6. PTG 279 - VI. CHƯƠNG ƯNG HỌC
    7. PTG 280 - VII. CÁC PHÁP DÀN XẾP TRANH TỤNG