Phân Tích Giới Bổn › Phân Tích Giới Tỳ-khưu Ni › IV. Chương Ưng Đối Trị › Phần Nhà Triển Lãm Tranh · Tỳ khưu Indacanda

PTG 231 - ĐIỀU HỌC THỨ TÁM

318. Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, tỳ khưu ni Thullanandā sau khi không xả bỏ chỗ trú ngụ đã ra đi du hành. Vào lúc bấy giờ, chỗ trú ngụ của tỳ khưu ni Thullanandā bị cháy. Các tỳ khưu ni đã nói như vầy:

- Này các ni sư, chúng ta hãy mang đồ đạc ra ngoài đi.

Một số vị ni đã nói như vầy:

- Này các ni sư, chúng ta sẽ không mang ra ngoài. Bất cứ vật gì bị hư hỏng, tất cả sẽ không có liên quan đến chúng ta.

Tỳ khưu ni Thullanandā sau khi quay trở về lại chỗ trú ngụ ấy đã hỏi các tỳ khưu ni rằng:

- Này các ni sư, các cô có mang đồ đạc ra ngoài không?

- Này ni sư, chúng tôi đã không mang ra ngoài.

Tỳ khưu ni Thullanandā phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao trong khi chỗ trú ngụ đang bị cháy các tỳ khưu ni lại không mang đồ đạc ra ngoài?

Các tỳ khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao ni sư Thullanandā khi chưa xả bỏ chỗ trú ngụ lại ra đi du hành?

...(như trên)...

- Này các tỳ khưu, nghe nói tỳ khưu ni Thullanandā khi chưa xả bỏ chỗ trú ngụ lại ra đi du hành, có đúng không vậy?

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

- Này các tỳ khưu, vì sao tỳ khưu ni Thullanandā khi chưa xả bỏ chỗ trú ngụ lại ra đi du hành vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)... Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào khi chưa xả bỏ chỗ trú ngụ mà ra đi du hành thì phạm tội ưng đối trị.”

319. Vị ni nào:
là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...

Tỳ khưu ni: ...(như trên)...
vị ni này là “vị tỳ khưu ni” được đề cập trong ý nghĩa này.

Chỗ trú ngụ nghĩa là (chỗ trú ngụ) có gắn cánh cửa được đề cập đến.

Khi chưa xả bỏ mà ra đi du hành: Sau khi chưa xả bỏ cho vị tỳ khưu ni, hoặc cô ni tu tập sự, hoặc vị sa di ni, trong khi vượt qua hàng rào của chỗ trú ngụ được rào lại vị ni phạm tội ưng đối trị. Trong khi vượt qua vùng phụ cận của chỗ trú ngụ không được rào lại, vị ni phạm tội ưng đối trị.

320. Khi chưa xả bỏ, nhận biết là chưa xả bỏ, vị ni ra đi thì phạm tội ưng đối trị.

Khi chưa xả bỏ, có sự hoài nghi, vị ni ra đi thì phạm tội ưng đối trị.

Khi chưa xả bỏ, (lầm) tưởng là đã xả bỏ, vị ni ra đi thì phạm tội ưng đối trị.

Vị ni ra đi khi chưa xả bỏ chỗ không có gắn cánh cửa thì phạm tội tác ác.

Khi đã xả bỏ, (lầm) tưởng là chưa xả bỏ, phạm tội tác ác.

Khi đã xả bỏ, có sự hoài nghi, phạm tội tác ác.

Khi đã xả bỏ, nhận biết là đã xả bỏ thì vô tội.

321. Sau khi đã xả bỏ rồi ra đi, khi có sự nguy hiểm, sau khi tìm kiếm (người để trông nom chỗ trú ngụ) nhưng không có, vị ni bị bệnh, trong những lúc có sự cố, vị ni bị điên, vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.