Phân Tích Giới Bổn › Phân Tích Giới Tỳ-khưu I › IV. Chương Bất Cộng Trụ thứ tư: Tội khoe pháp thượng nhân không thực chứng · Tỳ khưu Indacanda
PTG 005 - IV. CHƯƠNG BẤT CỘNG TRỤ THỨ TƯ - ĐOẠN 282-300
282. Khi tự tin thái quá,
trong rừng, đi khất thực,
thầy tế độ, oai nghi,
các trói buộc, hoang vắng,
trú xá, được hộ độ,
không phải là việc khó,
tinh tấn, rồi tử thần,
sợ hãi, này đại đức
ân hận, hành chơn chánh,
với kiên trì gắn bó
đưa đến sự thành tựu,
rồi có hai câu chuyện
chịu đựng về cảm thọ,
bà‑la‑môn năm chuyện,
ba chuyện vị đề cập
trí giải thoát, ngụ nhà,
các dục đã ngăn chặn,
thỏa thích, và ra đi,
bộ xương và miếng thịt
hai chuyện kẻ giết bò,
cục thịt kẻ bẫy chim,
không da người hàng thịt,
cây gươm kẻ mổ heo,
cây lao thợ săn nai,
mũi tên người xử án,
cây kim kẻ dạy thú,
người đâm thọc bị khâu,
mang tinh hoàn quan tòa,
chìm hố kẻ ngoại tình,
bà‑la‑môn quỷ quyệt
là kẻ bị ăn phân,
không da gái lăng loàn,
gớm ghiếc bà bói toán,
thị héo hon tàn tạ
đổ than hồng tình địch,
đầu cụt kẻ trảm tù,
tỳ khưu, tỳ khưu ni,
ni tập sự, sa di,
rồi vị sa di ni,
đã xuất gia trong Luật
của Phật Kassapa
chúng đã làm ác nghiệp,
giòng sông Tapodā,
thành Rājagaha,
chiến trận,
và chuyện rồng lặn hụp,
tỳ khưu Sobhita
là vị A‑la‑hán
nhớ được năm trăm kiếp.
283. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ do sự tự tin thái quá đã nói về trí giải thoát (aññā). Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Điều học đã được đức Thế Tôn quy định; phải chăng ta đã phạm tội pārājika?” Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này tỳ khưu, do sự tự tin thái quá thì vô tội.
284. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ cư ngụ ở trong rừng sau khi mong mỏi rằng: “Như vầy thì dân chúng sẽ kính trọng ta!” Dân chúng đã kính trọng vị ấy.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...
- Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội pārājika. Và này các tỳ khưu, không nên cư ngụ ở trong rừng sau khi đã mong mỏi; vị nào cư ngụ thì phạm tội tác ác.
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đi khất thực sau khi mong mỏi rằng: “Như vầy thì dân chúng sẽ kính trọng ta!” Dân chúng đã kính trọng vị ấy.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...
- Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội pārājika. Và này các tỳ khưu, không nên đi khất thực sau khi đã mong mỏi; vị nào đi thì phạm tội tác ác.
285. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã nói với vị tỳ khưu khác điều này:
- Này đại đức, tất cả các vị đệ tử của thầy tế độ của chúng ta đều là các vị A‑la‑hán.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc và đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?
- Bạch Thế Tôn, con có ý định khoác lác.
- Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm tội trọng tội.
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã nói với vị tỳ khưu khác điều này:
- Này đại đức, tất cả các vị học trò của thầy tế độ của chúng ta đều có đại thần lực, có đại oai lực.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc và đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?
- Bạch Thế Tôn, con có ý định khoác lác.
- Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm tội trọng tội.
286. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đi kinh hành sau khi mong mỏi rằng: “Như vầy thì dân chúng sẽ kính trọng ta!” Dân chúng đã kính trọng vị ấy. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc và đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội pārājika. Và này các tỳ khưu, không nên đi kinh hành sau khi đã mong mỏi; vị nào đi kinh hành thì phạm tội tác ác.
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đứng yên sau khi đã mong mỏi ...(như trên)... ngồi xuống sau khi đã mong mỏi ...(như trên)... nằm xuống sau khi mong mỏi rằng: “Như vầy thì dân chúng sẽ kính trọng ta!” Dân chúng đã kính trọng vị ấy. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc và đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội pārājika. Và này các tỳ khưu, không nên nằm xuống sau khi đã mong mỏi; vị nào nằm xuống thì phạm tội tác ác.
287. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ khoác lác về pháp thượng nhân đến vị tỳ khưu khác. Vị ấy cũng đã nói như vầy:
- Này đại đức, những sự trói buộc của tôi cũng đã được đoạn tận.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc và đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
288. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đi đến nơi vắng vẻ rồi khoác lác về pháp thượng nhân. Có vị tỳ khưu biết được tâm người khác đã phản bác vị tỳ khưu ấy rằng:
- Này đại đức, chớ có nói như thế. Điều ấy đại đức không có.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc và đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm tội tác ác.
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đi đến nơi vắng vẻ rồi khoác lác về pháp thượng nhân. Có vị thiên nhân đã phản bác vị tỳ khưu ấy rằng:
- Thưa ngài, chớ có nói như thế. Điều ấy ngài không có.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc và đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm tội tác ác.
289. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã nói với nam cư sĩ nọ điều này:
- Này đạo hữu, vị tỳ khưu sống trong trú xá của đạo hữu là vị A‑la‑hán.
Và vị tỳ khưu ấy sống trong trú xá của người ấy. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc và đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?
- Bạch Thế Tôn, con có ý định khoác lác.
- Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm tội trọng tội.
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã nói với nam cư sĩ nọ điều này:
- Này đạo hữu, vị tỳ khưu mà ngươi hộ độ bằng vật dụng là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men trị bệnh là vị A‑la‑hán.
Và người ấy đang hộ độ vị tỳ khưu ấy bằng vật dụng là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men trị bệnh. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc và đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?
- Bạch Thế Tôn, con có ý định khoác lác.
- Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm tội trọng tội.
290. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu đã nói với vị ấy điều này:
- Đại đức có pháp thượng nhân không?
- Này các đại đức, không phải là việc khó để nói lên trí giải thoát.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Chỉ có những vị thinh văn của đức Thế Tôn mới có thể nói như thế. Và ta không phải là thinh văn của đức Thế Tôn; phải chăng ta đã phạm tội pārājika?” Vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?
- Bạch Thế Tôn, con không có ý định khoác lác.
- Này tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu đã nói với vị ấy điều này:
- Đại đức có pháp thượng nhân không?
- Này các đại đức, pháp sẽ được thành tựu với vị có sự tinh tấn được ra sức.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...
- Này tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu đã nói với vị ấy điều này:
- Này đại đức, chớ có sợ hãi!
- Này các đại đức, tôi không có sợ tử thần.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...
- Này tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu đã nói với vị ấy điều này:
- Này đại đức, chớ có sợ hãi!
- Này các đại đức, có lẽ vị nào có sự ân hận thì vị ấy mới sợ hãi.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...
- Này tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu đã nói với vị ấy điều này:
- Đại đức có pháp thượng nhân không?
- Này các đại đức, pháp sẽ được thành tựu với vị có sự hành trì chơn chánh.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...
- Này tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu đã nói với vị ấy điều này:
- Đại đức có pháp thượng nhân không?
- Này các đại đức, pháp sẽ được thành tựu với vị có sự tinh tấn được ra sức.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...
- Này tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu đã nói với vị ấy điều này:
- Đại đức có pháp thượng nhân không?
- Này các đại đức, pháp sẽ được thành tựu với vị có sự kiên trì gắn bó.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...
- Này tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu đã nói với vị ấy điều này:
- Này đại đức, sức khoẻ có khá không? Mọi việc có được tốt đẹp không?
- Này các đại đức, người nào khác thì không thể chịu đựng nổi.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...
- Này tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu đã nói với vị ấy điều này:
- Này đại đức, sức khoẻ có khá không? Mọi việc có được tốt đẹp không?
- Này các đại đức, phàm nhân thì không thể chịu đựng nổi.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...
Vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?
- Bạch Thế Tôn, con có ý định khoác lác.
- Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm tội trọng tội.
291. Vào lúc bấy giờ, có người bà‑la‑môn nọ đã thỉnh mời các tỳ khưu và đã nói điều này:
- Thưa các ngài, xin các ngài A‑la‑hán hãy ngự đến.
Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Chúng ta không phải là các vị A‑la‑hán và người bà‑la‑môn này gọi chúng ta bằng từ A‑la‑hán. Vậy chúng ta nên xử trí như thế nào đây?” Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, vô tội trong việc xưng hô theo đức tin.
Vào lúc bấy giờ, có người bà‑la‑môn nọ đã thỉnh mời các tỳ khưu và đã nói điều này:
- Thưa các ngài, xin các ngài A‑la‑hán hãy ngồi xuống.
...(như trên)...
- Thưa các ngài, xin các ngài A‑la‑hán hãy thọ thực.
...(như trên)...
- Thưa các ngài, xin các ngài A‑la‑hán hãy được hài lòng.
...(như trên)...
- Thưa các ngài, xin các ngài A‑la‑hán hãy ra đi.
Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Chúng ta không phải là các vị A‑la‑hán và người bà‑la‑môn này lại đối xử với chúng ta bằng danh xưng A‑la‑hán. Vậy chúng ta nên xử trí như thế nào đây?” Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, vô tội trong việc xưng hô theo đức tin.
292. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ khoác lác với vị tỳ khưu khác về pháp thượng nhân. Vị ấy cũng đã nói như vầy:
- Này đại đức, tôi cũng đã đoạn tận các lậu hoặc.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...
- Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ khoác lác với vị tỳ khưu khác về pháp thượng nhân. Vị ấy cũng đã nói như vầy:
- Này đại đức, các pháp này cũng được tìm thấy ở tôi.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...
- Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ khoác lác với vị tỳ khưu khác về pháp thượng nhân. Vị ấy cũng đã nói như vầy:
- Này đại đức, tôi cũng thành thục các pháp này.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...
- Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
293. Vào lúc bấy giờ, các thân quyến đã nói với vị tỳ khưu nọ điều này:
- Thưa ngài, hãy đến và ngụ ở trong nhà.
- Này các đạo hữu, người như tôi không thể ngụ ở trong nhà.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc và đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?
- Bạch Thế Tôn, con không có ý định khoác lác.
- Này tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.
Vào lúc bấy giờ, các thân quyến đã nói với vị tỳ khưu nọ điều này:
- Thưa ngài, hãy đến và thọ dụng các dục.
- Này các đạo hữu, các dục của tôi đã được ngăn chặn.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc và đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?
- Bạch Thế Tôn, con không có ý định khoác lác.
- Này tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.
Vào lúc bấy giờ, các thân quyến đã nói với vị tỳ khưu nọ điều này:
- Thưa ngài, xin hãy thỏa thích.
- Này các đạo hữu, tôi được thỏa thích với sự thỏa thích tối thượng.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Chỉ có những vị thinh văn của đức Thế Tôn mới có thể nói như thế. Và ta không phải là thinh văn của đức Thế Tôn; phải chăng ta đã phạm tội pārājika?” Vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?
- Bạch Thế Tôn, con không có ý định khoác lác.
- Này tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.
294. Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa ở trú xứ nọ sau khi thỏa thuận rằng: “Vị nào sẽ rời trú xứ này trước tiên, chúng ta sẽ biết vị ấy là: ‘Vị A‑la‑hán.’”
Có vị tỳ khưu nọ (nghĩ rằng): “Hãy để cho các vị biết ta là: ‘Vị A‑la‑hán,’” rồi đã rời trú xứ ấy trước tiên. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Phải chăng ta đã phạm tội pārājika?” Vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
295. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, đại đức Lakkhaṇa và đại đức Mahāmoggallāna cư ngụ tại núi Gijjhakūṭa. Khi ấy vào buổi sáng, đại đức Mahāmoggallāna đã mặc y cầm y bát đi đến gặp đại đức Lakkhaṇa, sau khi đến đã nói với đại đức Lakkhaṇa điều này:
- Này đại đức Lakkhaṇa, chúng ta hãy đi vào thành Rājagaha để khất thực.
- Này đại đức, xin vâng. Đại đức Lakkhaṇa đã trả lời đại đức Mahāmoggallāna.
Sau đó, trong khi đi xuống từ núi Gijjhakūṭa ngang qua khu vực nọ, đại đức Mahāmoggallāna đã mỉm cười. Khi ấy, đại đức Lakkhaṇa đã nói với đại đức Mahāmoggallāna điều này:
- Này đại đức Mahāmoggallāna, nhân gì duyên gì đưa đến việc mỉm cười vậy?
- Này đại đức Lakkhaṇa, không phải lúc để giải thích câu hỏi này, hãy hỏi ta câu hỏi này trong sự hiện diện của đức Thế Tôn.
Sau đó, đại đức Lakkhaṇa và đại đức Mahāmoggallāna đã đi khất thực ở trong thành Rājagaha, sau bữa ăn khi đi khất thực trở về đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Lakkhaṇa đã nói với đại đức Mahāmoggallāna điều này:
- Ở đây, đại đức Mahāmoggallāna, trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa ngang qua khu vực nọ, đã mỉm cười. Này đại đức Mahāmoggallāna, nhân gì duyên gì đưa đến việc mỉm cười vậy?
- Này đại đức, ở đây trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đã nhìn thấy bộ xương đang đi trong hư không và có những con chim kên kên, chim quạ, chim ưng lăn xả lao vào bộ xương ấy, day nghiến, bóc ra, rứt ra các phần ở khoảng giữa các xương sườn; và bộ xương ấy đã rên rỉ khổ sở. Này đại đức, ta đây đã khởi ý điều này: “Thật là kỳ diệu! Thật là phi thường! Cũng có chúng sanh lại trở thành như thế này! Cũng có dạ‑xoa lại trở thành như thế này! Cũng có ngạ quỷ lại trở thành như thế này! Cũng có sự hình thành bản ngã lại là như thế này!”
Các tỳ khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Đại đức Mahāmoggallāna khoác lác về pháp thượng nhân.
Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, quả thật các thinh văn sống với mắt thấy như thật! Này các tỳ khưu, quả thật các thinh văn sống với trí biết như thật! Bởi vì là thinh văn thì sẽ biết, hoặc sẽ thấy, hoặc sẽ chứng kiến điều như thế. Này các tỳ khưu, trước đây ta đã thấy chúng sanh ấy, tuy nhiên ta đã không nói ra. Và nếu ta nói ra điều ấy thì những kẻ khác có thể không tin ta, những ai không tin ta thì việc ấy sẽ đem lại cho chúng sự bất hạnh khổ đau lâu dài. Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là kẻ giết trâu bò ở ngay trong thành Rājagaha này. Kẻ ấy, do quả của nghiệp ấy, sau khi đã bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm, và do quả dư sót của chính nghiệp ấy đã đạt đến sự hình thành bản ngã có hình thức như thế. Này các tỳ khưu, Moggallāna đã nói sự thật. Này các tỳ khưu, Moggallāna là vô tội.
- Này đại đức, ở đây trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đã nhìn thấy miếng thịt đang đi trong hư không và có những con chim kên kên, chim quạ, chim ưng lăn xả lao vào miếng thịt ấy, day nghiến, bóc ra, rứt ra;
và miếng thịt ấy đã rên rỉ khổ sở. ...(như trên)...
- Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là kẻ giết trâu bò ở ngay trong thành Rājagaha này.
- Này đại đức, ở đây trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đã nhìn thấy cục thịt đang đi trong hư không và có những con chim kên kên, chim quạ, chim ưng lăn xả lao vào cục thịt ấy, day nghiến, bóc ra, rứt ra;
và cục thịt ấy đã rên rỉ khổ sở. ...(như trên)...
- Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là kẻ bẫy chim ở ngay trong thành Rājagaha này.
- Này đại đức, ở đây trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đã nhìn thấy người đàn ông không có lớp da (bao bọc) đang đi trong hư không và có những con chim kên kên, chim quạ, chim ưng lăn xả lao vào người ấy, day nghiến, bóc ra, rứt ra;
và người ấy đã rên rỉ khổ sở. ...(như trên)...
- Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là người hàng thịt ở ngay trong thành Rājagaha này.
- Này đại đức, ở đây trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đã nhìn thấy người có lông là các cây gươm đang đi trong hư không và những cây gươm ấy lăn xả lao vào người ấy, rơi xuống trên cơ thể của chính người ấy;
và người ấy đã rên rỉ khổ sở. ...(như trên)...
- Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là người mổ heo ở ngay trong thành Rājagaha này.
- Này đại đức, ở đây trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đã nhìn thấy người có lông là các cây lao đang đi trong hư không và những cây lao ấy lăn xả lao vào người ấy, rơi xuống trên cơ thể của chính người ấy;
và người ấy đã rên rỉ khổ sở. ...(như trên)...
- Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là người thợ săn nai ở ngay trong thành Rājagaha này.
- Này đại đức, ở đây trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đã nhìn thấy người có lông là các mũi tên đang đi trong hư không và những mũi tên ấy lăn xả lao vào người ấy, rơi xuống trên cơ thể của chính người ấy;
và người ấy đã rên rỉ khổ sở. ...(như trên)...
- Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là người tra khảo ở ngay trong thành Rājagaha này.
- Này đại đức, ở đây trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đã nhìn thấy người có lông là các cây kim đang đi trong hư không và những cây kim ấy lăn xả lao vào người ấy, rơi xuống trên cơ thể của chính người ấy;
và người ấy đã rên rỉ khổ sở. ...(như trên)...
- Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là người đánh xe ở ngay trong thành Rājagaha này.
- Này đại đức, ở đây trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đã nhìn thấy người có lông là các cây kim đang đi trong hư không và những cây kim ấy đã đi vào đầu của người ấy rồi đi ra từ miệng, đã đi vào miệng rồi đi ra từ ngực, đã đi vào ngực rồi đi ra từ bụng, đã đi vào bụng rồi đi ra từ hai đùi, đã đi vào hai đùi rồi đi ra từ hai cẳng chân, đã đi vào hai cẳng chân rồi đi ra từ hai bàn chân;
và người ấy đã rên rỉ khổ sở. ...(như trên)...
- Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là kẻ nói lời đâm thọc ở ngay trong thành Rājagaha này.
- Này đại đức, ở đây trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đã nhìn thấy người hình thù quỷ sứ đang đi trong hư không. Trong lúc đi, người ấy đặt hai tinh hoàn ở trên vai rồi đi. Trong khi ngồi xuống, người ấy ngồi xuống trên chính hai tinh hoàn ấy. Và có những con chim kên kên, chim quạ, chim ưng lăn xả lao vào người ấy, day nghiến, bóc ra, rứt ra;
và người ấy đã rên rỉ khổ sở. ...(như trên)...
- Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là quan xử án ở ngay trong thành Rājagaha này.
- Này đại đức, ở đây trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đã nhìn thấy người bị chìm đến tận đầu ở trong hố phân ...(như trên)...
- Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là kẻ phạm tội ngoại tình ở ngay trong thành Rājagaha này.
- Này đại đức, ở đây trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đã nhìn thấy người bị chìm đến tận đầu ở trong hố phân, ăn phân bằng hai bàn tay ...(như trên)...
- Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là kẻ bà‑la‑môn quỷ quyệt ở ngay trong thành Rājagaha này. Trong thời giáo pháp của đức Chánh Đẳng Giác Kassapa, kẻ ấy đã thỉnh mời hội chúng tỳ khưu bữa ăn. Sau khi cho người đổ đầy máng phân và thông báo thời giờ, kẻ ấy đã nói điều này: “Này các ngài, hãy ăn ở đây theo ý thích rồi hãy mang đi.” Kẻ ấy, do quả của nghiệp ấy, sau khi đã bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm, và do quả dư sót của chính nghiệp ấy đã đạt đến sự hình thành bản ngã có hình thức như thế. Này các tỳ khưu, Moggallāna đã nói sự thật. Này các tỳ khưu, Moggallāna là vô tội.
- Này đại đức, ở đây trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đã nhìn thấy người đàn bà không có lớp da (bao bọc) đang đi trong hư không và có những con chim kên kên, chim quạ, chim ưng lăn xả lao vào cô ấy, day nghiến, bóc ra, rứt ra; và cô ấy đã rên rỉ khổ sở. ...(như trên)...
- Này các tỳ khưu, người đàn bà ấy đã là gái lăng loàn ở ngay trong thành Rājagaha này. ...(như trên)... Này các tỳ khưu, Moggallāna đã nói sự thật. Này các tỳ khưu, Moggallāna là vô tội.
- Này đại đức, ở đây trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đã nhìn thấy người đàn bà hôi thối gớm ghiếc đang đi trong hư không và có những con chim kên kên, chim quạ, chim ưng lăn xả lao vào cô ấy, day nghiến, bóc ra, rứt ra; và cô ấy đã rên rỉ khổ sở. ...(như trên)...
- Này các tỳ khưu, người đàn bà ấy đã là bà bói toán ở ngay trong thành Rājagaha này.
- Này đại đức, ở đây trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đã nhìn thấy người đàn bà bị thiêu đốt, héo hon, tàn tạ; và cô ấy đã rên rỉ khổ sở. ...(như trên)...
- Này các tỳ khưu, người đàn bà ấy đã là đệ nhất hoàng hậu của đức vua Kāliṅga. Bà ta lộ vẻ ghen tương đã dùng chậu than cháy đỏ trút lên người tình địch.
- Này đại đức, ở đây trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đã nhìn thấy thi thể không đầu đang đi trong hư không, còn các con mắt và miệng thì ở trên ngực của người ấy, và có những con chim kên kên, chim quạ, chim ưng lăn xả lao vào người ấy, day nghiến, bóc ra, rứt ra;
và người ấy đã rên rỉ khổ sở. ...(như trên)...
- Này các tỳ khưu, chúng sanh ấy đã là người xử tử bọn trộm cướp tên Dāmarika ở ngay trong thành Rājagaha này.
- Này đại đức, ở đây trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đã nhìn thấy vị tỳ khưu đang đi trong hư không, y hai lớp của vị ấy bị cháy đỏ, cháy rực, có ngọn lửa, bình bát cũng bị cháy đỏ, cháy rực, có ngọn lửa, dây thắt lưng cũng bị cháy đỏ, cháy rực, có ngọn lửa, thân hình cũng bị cháy đỏ, cháy rực, có ngọn lửa; và vị ấy đã rên rỉ khổ sở. ...(như trên)...
- Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy đã là vị ác tỳ khưu ở vào thời giáo pháp của đức Chánh Đẳng Giác Kassapa.
- Này đại đức, ở đây trong khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa, ta đã nhìn thấy vị tỳ khưu ni ...(như trên)... đã nhìn thấy vị ni tu tập sự, đã nhìn thấy vị sa di, đã nhìn thấy vị sa di ni đang đi trong hư không, y hai lớp của vị ni ấy bị cháy đỏ, cháy rực, có ngọn lửa, bình bát cũng bị cháy đỏ, cháy rực, có ngọn lửa, dây thắt lưng cũng bị cháy đỏ, cháy rực, có ngọn lửa, thân hình cũng bị cháy đỏ, cháy rực, có ngọn lửa; và vị ni ấy đã rên rỉ khổ sở. Này đại đức, ta đây đã khởi ý điều này: “Thật là kỳ diệu! Thật là phi thường! Cũng có chúng sanh lại trở thành như thế này! Cũng có dạ‑xoa lại trở thành như thế này! Cũng có ngạ quỷ lại trở thành như thế này! Cũng có sự hình thành bản ngã lại là như thế này!”
Các tỳ khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Đại đức Mahāmoggallāna khoác lác về pháp thượng nhân.
Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các vị tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, quả thật các thinh văn sống với mắt thấy như thật! Này các tỳ khưu, quả thật các thinh văn sống với trí biết như thật! Bởi vì là thinh văn thì sẽ biết, hoặc sẽ thấy, hoặc sẽ chứng kiến điều như thế. Này các tỳ khưu, trước đây ta đã thấy vị sa di ni ấy tuy nhiên ta đã không nói ra. Và nếu ta nói ra thì những kẻ khác có thể không tin ta, những ai không tin ta thì việc ấy sẽ đem lại cho chúng sự bất hạnh khổ đau lâu dài. Này các tỳ khưu, vị sa di ni ấy đã là ác sa di ni ở vào thời giáo pháp của đức Chánh Đẳng Giác Kassapa. Vị ni ấy, do quả của nghiệp ấy, đã bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm, và do quả dư sót của chính nghiệp ấy đã đạt đến sự hình thành bản ngã có hình thức như thế. Này các tỳ khưu, Moggallāna đã nói sự thật. Này các tỳ khưu, Moggallāna là vô tội.
296. Khi ấy, đại đức Mahāmoggallāna đã nói với các tỳ khưu rằng:
- Này các đại đức, giòng sông Tapodā chảy ra từ cái hồ có nước trong, có nước mát, có nước ngọt, có nước thanh khiết, có chỗ nghỉ chân xinh đẹp, đáng thưởng ngoạn, có nhiều cá và rùa, có những đoá hoa sen tròn nở rộ, và giờ đây giòng sông Tapodā này đã trở nên nóng bỏng và trôi chảy.
Các tỳ khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao đại đức Mahāmoggallāna lại nói như vầy: “Này các đại đức, giòng sông Tapodā chảy ra từ cái hồ có nước trong, có nước mát, có nước ngọt, có nước thanh khiết, có chỗ nghỉ chân xinh đẹp, đáng thưởng ngoạn, có nhiều cá và rùa, có những đoá hoa sen tròn nở rộ, và giờ đây giòng sông Tapodā này đã trở nên nóng bỏng và trôi chảy”? Đại đức Mahāmoggallāna khoác lác về pháp thượng nhân.
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, giòng sông Tapodā chảy ra từ cái hồ có nước trong, có nước mát, có nước ngọt, có nước thanh khiết, có chỗ nghỉ chân xinh đẹp, đáng thưởng ngoạn, có nhiều cá và rùa, có những đoá hoa sen tròn nở rộ, và giờ đây giòng sông Tapodā này đã trở nên nóng bỏng và trôi chảy. Này các tỳ khưu, tuy nhiên giòng sông Tapodā này đi qua giữa hai đại địa ngục; vì thế, giòng sông Tapodā này đã trở nên nóng bỏng và trôi chảy. Này các tỳ khưu, Moggallāna đã nói sự thật. Này các tỳ khưu, Moggallāna là vô tội.
297. Vào lúc bấy giờ, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, trong lúc giao chiến với các vị Licchavi, đã bị đánh tan tác. Sau đó, khi đã gom góp lại đội binh hậu bị, đức vua đã đánh bại các vị Licchavi. Và trong trận chiến có sự vui mừng loan truyền rằng: “Các vị Licchavi đã bị đức vua đánh tan tác.” Khi ấy, đại đức Mahāmoggallāna đã nói với các tỳ khưu rằng:
- Này các đại đức, đức vua đã bị các vị Licchavi đánh tan tác. Và trong trận chiến có sự vui mừng loan truyền rằng: “Các vị Licchavi đã bị đức vua đánh tan tác.”
Các tỳ khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao đại đức Mahāmoggallāna lại nói như vầy: “Này các đại đức, đức vua đã bị các vị Licchavi đánh tan tác. Và trong trận chiến có sự vui mừng loan truyền rằng: ‘Các vị Licchavi đã bị đức vua đánh tan tác’”? Đại đức Mahāmoggallāna khoác lác về pháp thượng nhân.
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, trước tiên đức vua đã bị các vị Licchavi đánh tan tác. Sau đó, khi đã gom góp lại đội binh hậu bị, đức vua đã đánh bại các vị Licchavi. Này các tỳ khưu, Moggallāna đã nói sự thật. Này các tỳ khưu, Moggallāna là vô tội.
298. Sau đó, đại đức Mahāmoggallāna đã nói với các tỳ khưu rằng:
- Này các đại đức, ở đây tôi đã chứng đạt định bất thối ở nơi bờ sông Sappinikā. Tôi đã nghe tiếng động của các con rồng đang hụp xuống rồi trồi lên và gầm lên tiếng rống.
Các tỳ khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao đại đức Mahāmoggallāna lại nói như vầy: “Này các đại đức, ở đây tôi đã chứng đạt định bền vững ở nơi bờ sông Sappinikā. Tôi đã nghe tiếng động của các con rồng đang hụp xuống rồi trồi lên và gầm lên tiếng rống”? Đại đức Mahāmoggallāna khoác lác về pháp thượng nhân.
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, Moggallāna có loại định này và vị ấy chưa được thuần thục lắm. Này các tỳ khưu, Moggallāna đã nói sự thật. Này các tỳ khưu, Moggallāna là vô tội.
299. Khi ấy, đại đức Sobhita đã nói với các tỳ khưu rằng:
- Này các đại đức, tôi nhớ được năm trăm kiếp.
Các tỳ khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao đại đức Sobhita lại nói như vầy: “Này các đại đức, tôi nhớ được năm trăm kiếp”? Đại đức Sobhita khoác lác về pháp thượng nhân.
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này các tỳ khưu, Sobhita đã sống kiếp sống ấy, và kiếp sống ấy chỉ là một kiếp sống của Sobhita. Này các tỳ khưu, Sobhita đã nói sự thật. Này các tỳ khưu, Sobhita là vô tội.
Dứt điều pārājika thứ tư.
300. Bạch chư đại đức, bốn điều pārājika đã được đọc tụng xong. Vị tỳ khưu vi phạm điều nọ hoặc điều kia thuộc về các điều này thì không đạt được sự cộng trú cùng với các vị tỳ khưu, trước đây như thế nào thì sau này là như vậy; (vị ấy) là vị phạm tội pārājika không được cộng trú.
Trong các điều ấy, tôi hỏi các đại đức rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?
Đến lần thứ nhì, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?
Đến lần thứ ba, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?
Các đại đức được thanh tịnh nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.
Dứt Chương Pārājika.
Tóm lược chương này:
(Thực hiện) việc đôi lứa,
lấy vật không được cho,
thân mạng của con người,
(tuyên bố) pháp thượng nhân,
(Như vậy) có bốn điều
(gọi) pārājika,
sự việc nên chia chẻ,
mối nghi hoặc chẳng còn.