Phân Tích Giới Bổn › Phân Tích Giới Tỳ-khưu Ni › IV. Chương Ưng Đối Trị › Phần Tu Viện · Tỳ khưu Indacanda
PTG 243 - ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI
361. Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu ni nọ cùng người nam một nam với một nữ xẻ nặn mụt nhọt phát sanh ở phần dưới thân. Khi ấy, người nam ấy đã gắng sức để làm ô uế vị tỳ khưu ni. Vị tỳ khưu ni ấy đã kêu thét lên. Các tỳ khưu ni đã chạy lại và đã nói với tỳ khưu ni ấy điều này:
- Này ni sư, vì sao cô đã kêu thét lên?
Khi ấy, vị tỳ khưu ni ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu ni.
Các tỳ khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao tỳ khưu ni lại cùng người nam một nam với một nữ xẻ nặn mụt nhọt phát sanh ở phần dưới thân?
...(như trên)...
- Này các tỳ khưu, nghe nói vị tỳ khưu ni cùng người nam một nam với một nữ xẻ nặn mụt nhọt phát sanh ở phần dưới thân, có đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này các tỳ khưu, vì sao tỳ khưu ni lại cùng người nam một nam với một nữ xẻ nặn mụt nhọt phát sanh ở phần dưới thân vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)... Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào khi chưa xin phép hội chúng hoặc nhóm lại cùng người nam một nam với một nữ làm cho vỡ ra hoặc xẻ ra hoặc rửa ráy hoặc bôi thuốc hoặc băng lại hoặc tháo băng mụt nhọt hoặc vết loét phát sanh ở phần dưới thân thì phạm tội ưng đối trị.”
362. Vị ni nào:
là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...
Tỳ khưu ni: ...(như trên)...
vị ni này là “vị tỳ khưu ni” được đề cập trong ý nghĩa này.
Ở phần dưới thân nghĩa là từ lỗ rún trở xuống từ đầu gối trở lên.
Phát sanh: được sanh lên tại nơi ấy.
Mụt nhọt nghĩa là bất cứ loại mụt nhọt nào.
Vết loét nghĩa là bất cứ loại vết thương nào.
Khi chưa xin phép: chưa có hỏi ý.
Hội chúng nghĩa là hội chúng tỳ khưu ni được đề cập đến.
Nhóm nghĩa là nhiều vị tỳ khưu ni được đề cập đến.
Người nam nghĩa là nam nhân loại, không phải dạ‑xoa nam, không phải ma nam, không phải thú đực, có sự hiểu biết, có khả năng làm ô uế.
Cùng: cùng với.
Một nam với một nữ: là người nam và vị tỳ khưu ni.
Vị ni ra lệnh rằng: “Hãy làm vỡ ra” thì phạm tội tác ác; khi đã bị vỡ thì phạm tội ưng đối trị. Vị ni ra lệnh rằng: “Hãy xẻ ra” thì phạm tội tác ác; khi đã được xẻ thì phạm tội ưng đối trị. Vị ni ra lệnh rằng: “Hãy rửa” thì phạm tội tác ác; khi đã được rửa thì phạm tội ưng đối trị. Vị ni ra lệnh rằng: “Hãy bôi thuốc” thì phạm tội tác ác; khi đã được bôi thuốc thì phạm tội ưng đối trị. Vị ni ra lệnh rằng: “Hãy băng lại” thì phạm tội tác ác; khi đã được băng lại thì phạm tội ưng đối trị. Vị ni ra lệnh rằng: “Hãy tháo băng” thì phạm tội tác ác; khi đã được tháo băng thì phạm tội ưng đối trị.
363. Vị ni bảo làm cho vỡ ra hoặc bảo xẻ ra hoặc bảo rửa hoặc bảo bôi thuốc hoặc bảo băng lại hoặc bảo tháo băng sau khi đã xin phép, có người nữ nào đó có sự hiểu biết là người nữ thứ nhì, vị ni bị điên, vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Phần Tu Viện là phần thứ sáu.
Tóm lược phẩm này:
Tu viện, sự sỉ vả, và có sự giận dữ, thọ thực, bỏn xẻn về gia đình, (an cư) mùa mưa, lễ Pavāraṇā, sự giáo giới, hai việc, và với phần dưới thân.