Phân Tích Giới Bổn › Phân Tích Giới Tỳ-khưu I › V. Chương Mười ba pháp › Điều Tăng Tàng thứ năm · Tỳ khưu Indacanda

PTG 011 - ĐIỀU TĂNG TÀNG THỨ NĂM - ĐOẠN 447-495

447. Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ (hạng) được mua bằng của cải, (hạng) sống chung do sự tự nguyện, (hạng) sống chung vì tài vật, (hạng) sống chung vì y phục, (hạng) được cưới theo nghi thức, (hạng) có vật lót ở đầu được đặt xuống, (hạng) nữ tỳ là vợ, (hạng) người làm công là vợ, (hạng) được đem lại dưới lá cờ, (hạng) chỉ trong chốc lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng. ...(như trên)...

Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được cha bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ...(như trên)... người nữ được mẹ cha bảo hộ nói rằng ... người nữ được anh (em) trai bảo hộ nói rằng ... người nữ được chị (em) gái bảo hộ nói rằng ... người nữ được thân quyến bảo hộ nói rằng ... người nữ được dòng họ bảo hộ nói rằng ... người nữ được luân lý bảo hộ nói rằng ... người nữ có sự gìn giữ nói rằng ... người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ (hạng) chỉ trong chốc lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Các phần tóm lược.

448. Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được cha bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ (hạng) chỉ trong chốc lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được mẹ cha bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ...(như trên)... người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được anh (em) trai bảo hộ ... người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được chị (em) gái bảo hộ ... người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được thân quyến bảo hộ ... người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được dòng họ bảo hộ ... người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được luân lý bảo hộ ... người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ có sự gìn giữ ... người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ (hạng) chỉ trong chốc lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Phần phân tích theo sự xoay vòng.

449. Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được cha bảo hộ và người nữ được mẹ cha bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ (hạng) chỉ trong chốc lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được cha bảo hộ và người nữ được anh (em) trai bảo hộ ... người nữ được cha bảo hộ và người nữ được chị (em) gái bảo hộ ... người nữ được cha bảo hộ và người nữ được thân quyến bảo hộ ... người nữ được cha bảo hộ và người nữ được dòng họ bảo hộ ... người nữ được cha bảo hộ và người nữ được luân lý bảo hộ ... người nữ được cha bảo hộ và người nữ có sự gìn giữ ... người nữ được cha bảo hộ và người nữ bị quy định hình phạt ... người nữ được cha bảo hộ và người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ (hạng) chỉ trong chốc lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Phần tổng hợp theo sự xoay vòng.

Phần nhân tố được tóm tắt.

450. Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ (hạng) chỉ trong chốc lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được cha bảo hộ ... người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được mẹ cha bảo hộ ... người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được anh (em) trai bảo hộ ... người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được chị (em) gái bảo hộ ... người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được thân quyến bảo hộ ... người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được dòng họ bảo hộ ... người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được luân lý bảo hộ ... người nữ bị quy định hình phạt và người nữ có sự gìn giữ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ (hạng) chỉ trong chốc lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Dứt phần liên quan đến một nhân tố.

451. Phần liên quan đến hai nhân tố, phần liên quan đến ba nhân tố, phần liên quan đến bốn nhân tố, phần liên quan đến năm nhân tố, phần liên quan đến sáu nhân tố, phần liên quan đến bảy nhân tố, phần liên quan đến tám nhân tố, phần liên quan đến chín nhân tố nên được thực hiện y như thế.

Đây là phần có liên quan đến mười nhân tố.

452. Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được mẹ bảo hộ, người nữ được cha bảo hộ, người nữ được mẹ cha bảo hộ, người nữ được anh (em) trai bảo hộ, người nữ được chị (em) gái bảo hộ, người nữ được thân quyến bảo hộ, người nữ được dòng họ bảo hộ, người nữ được luân lý bảo hộ, người nữ có sự gìn giữ, và người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ (hạng) chỉ trong chốc lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Dứt sự xoay vòng của “Hạng chỉ trong chốc lát.”

453. Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng. ...(như trên)...

Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ (hạng) sống chung do sự tự nguyện, (hạng) sống chung vì tài vật, (hạng) sống chung vì y phục, (hạng) được cưới theo nghi thức, (hạng) có vật lót ở đầu được đặt xuống, (hạng) nữ tỳ là vợ, (hạng) người làm công là vợ, (hạng) được đem lại dưới lá cờ, (hạng) chỉ trong chốc lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Các phần tóm lược.

454. Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) sống chung do sự tự nguyện của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) sống chung vì tài vật ... (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) sống chung vì y phục ... (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) được cưới theo nghi thức ... (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) có vật lót ở đầu được đặt xuống ... (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) nữ tỳ là vợ ... (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) người làm công là vợ ... (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) được đem lại dưới lá cờ ... (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) chỉ trong chốc lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Dứt phần phân tích theo sự xoay vòng.

455. Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ (hạng) sống chung do sự tự nguyện và (hạng) sống chung vì tài vật ...(như trên)... (hạng) sống chung do sự tự nguyện và (hạng) chỉ trong chốc lát ... (hạng) sống chung do sự tự nguyện và (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Phần tổng hợp theo sự xoay vòng.

Phần nhân tố được tóm tắt.

456. Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ (hạng) chỉ trong chốc lát và (hạng) được mua bằng của cải ... (hạng) chỉ trong chốc lát và (hạng) sống chung do sự tự nguyện ... (hạng) chỉ trong chốc lát và (hạng) được đem lại dưới lá cờ của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Dứt phần liên quan đến một nhân tố.

457. Phần liên quan đến hai nhân tố, phần liên quan đến ba nhân tố, phần liên quan đến bốn nhân tố, phần liên quan đến năm nhân tố, phần liên quan đến sáu nhân tố, phần liên quan đến bảy nhân tố, phần liên quan đến tám nhân tố, phần liên quan đến chín nhân tố nên được thực hiện y như thế.

Đây là phần có liên quan đến mười nhân tố.

458. Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ (hạng) được mua bằng của cải, (hạng) sống chung do sự tự nguyện, (hạng) sống chung vì tài vật, (hạng) sống chung vì y phục, (hạng) được cưới theo nghi thức, (hạng) có vật lót ở đầu được đặt xuống, (hạng) nữ tỳ là vợ, (hạng) người làm công là vợ, (hạng) được đem lại dưới lá cờ, và (hạng) chỉ trong chốc lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

459. Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được cha bảo hộ tên như vầy nói rằng: ...(như trên)... người nữ được mẹ cha bảo hộ nói rằng ... người nữ được anh (em) trai bảo hộ nói rằng ... người nữ được chị (em) gái bảo hộ nói rằng ... người nữ được thân quyến bảo hộ nói rằng ... người nữ được dòng họ bảo hộ nói rằng ... người nữ được luân lý bảo hộ nói rằng ... người nữ có sự gìn giữ nói rằng ... người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ ... (hạng) sống chung do sự tự nguyện ... (hạng) sống chung vì tài vật ... (hạng) sống chung vì y phục ... (hạng) được cưới theo nghi thức ... (hạng) có vật lót ở đầu được đặt xuống ... (hạng) nữ tỳ là vợ ... (hạng) người làm công là vợ ... (hạng) được đem lại dưới lá cờ ... (hạng) chỉ trong chốc lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Các phần tóm lược.

460. Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) sống chung do sự tự nguyện của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) sống chung vì tài vật ... (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) sống chung vì y phục ... (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) được cưới theo nghi thức ... (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) có vật lót ở đầu được đặt xuống ... (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) nữ tỳ là vợ ... (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) người làm công là vợ ... (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) được đem lại dưới lá cờ ... (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) chỉ trong chốc lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Phần phân tích theo sự xoay vòng.

461. Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ (hạng) sống chung do sự tự nguyện và (hạng) sống chung vì tài vật ...(như trên)... (hạng) sống chung do sự tự nguyện và (hạng) sống chung vì y phục ... (hạng) sống chung do sự tự nguyện và (hạng) chỉ trong chốc lát ... (hạng) sống chung do sự tự nguyện và (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Phần tổng hợp theo sự xoay vòng.

Phần nhân tố được tóm tắt.

462. Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ (hạng) chỉ trong chốc lát và (hạng) được mua bằng của cải ... (hạng) chỉ trong chốc lát và (hạng) được đem lại dưới lá cờ của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Dứt phần liên quan đến một nhân tố.

463. Phần liên quan đến hai nhân tố, phần liên quan đến ba nhân tố, phần liên quan đến bốn nhân tố, phần liên quan đến năm nhân tố, phần liên quan đến sáu nhân tố, phần liên quan đến bảy nhân tố, phần liên quan đến tám nhân tố, phần liên quan đến chín nhân tố nên được thực hiện y như thế.

Đây là phần có liên quan đến mười nhân tố.

464. Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ (hạng) được mua bằng của cải, (hạng) sống chung do sự tự nguyện, (hạng) sống chung vì tài vật, (hạng) sống chung vì y phục, (hạng) được cưới theo nghi thức, (hạng) có vật lót ở đầu được đặt xuống, (hạng) nữ tỳ là vợ, (hạng) người làm công là vợ, (hạng) được đem lại dưới lá cờ, và (hạng) chỉ trong chốc lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

465. Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được mẹ bảo hộ tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được cha bảo hộ tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) sống chung do sự tự nguyện của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được mẹ bảo hộ, người nữ được cha bảo hộ, và người nữ được mẹ cha bảo hộ tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ (hạng) được mua bằng của cải, (hạng) sống chung do sự tự nguyện, và (hạng) sống chung vì tài vật của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

(Phần tổng hợp của hai nhân tố nên được thực hiện như thế).

Đây là phần có liên quan đến tất cả các nhân tố.

466. Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được mẹ bảo hộ, người nữ được cha bảo hộ, người nữ được mẹ cha bảo hộ, người nữ được anh (em) trai bảo hộ, người nữ được chị (em) gái bảo hộ, người nữ được thân quyến bảo hộ, người nữ được dòng họ bảo hộ, người nữ được luân lý bảo hộ, người nữ có sự gìn giữ, và người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ (hạng) được mua bằng của cải, (hạng) sống chung do sự tự nguyện, (hạng) sống chung vì tài vật, (hạng) sống chung vì y phục, (hạng) được cưới theo nghi thức, (hạng) có vật lót ở đầu được đặt xuống, (hạng) nữ tỳ là vợ, (hạng) người làm công là vợ, (hạng) được đem lại dưới lá cờ, và (hạng) chỉ trong chốc lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Dứt phần tổng hợp của hai nhân tố.

467. Người mẹ của người đàn ông phái vị tỳ khưu đi ...(như trên)... Cha của người đàn ông phái vị tỳ khưu đi ...(như trên)... Mẹ cha của người đàn ông phái vị tỳ khưu đi ...(như trên)... Anh (em) trai của người đàn ông phái vị tỳ khưu đi ...(như trên)... Chị (em) gái của người đàn ông phái vị tỳ khưu đi ...(như trên)... Thân quyến của người đàn ông phái vị tỳ khưu đi ...(như trên)... Dòng họ của người đàn ông phái vị tỳ khưu đi ...(như trên)... Các đồng đạo của người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (Sự trùng lặp về người đàn ông nên được giải thích chi tiết. Phần tổng hợp của hai nhân tố nên được giải thích chi tiết giống như cách thức về người đàn ông).

468. Người mẹ của người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy nhận (con gái tôi) là người vợ (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Người mẹ của người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy nhận (con gái tôi) là người vợ (hạng) sống chung do sự tự nguyện ... (hạng) sống chung vì tài vật ... (hạng) sống chung vì y phục ... (hạng) được cưới theo nghi thức ... (hạng) có vật lót ở đầu được đặt xuống ... (hạng) nữ tỳ là vợ ... (hạng) người làm công là vợ ... (hạng) được đem lại dưới lá cờ ... (hạng) chỉ trong chốc lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Các phần tóm lược.

469. Người mẹ của người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy nhận (con gái tôi) là người vợ (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) sống chung do sự tự nguyện của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Người mẹ của người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy nhận (con gái tôi) là người vợ (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) sống chung do sự tự nguyện ... (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) sống chung vì tài vật ... (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) sống chung vì y phục ... (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) được cưới theo nghi thức ... (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) có vật lót ở đầu được đặt xuống ... (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) nữ tỳ là vợ ... (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) người làm công là vợ ... (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) được đem lại dưới lá cờ ... (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) chỉ trong chốc lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Phần phân tích theo sự xoay vòng.

470. Người mẹ của người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy nhận (con gái tôi) là người vợ (hạng) sống chung do sự tự nguyện và (hạng) sống chung vì tài vật ... (hạng) sống chung do sự tự nguyện và (hạng) chỉ trong chốc lát ... (hạng) sống chung do sự tự nguyện và (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Phần tổng hợp theo sự xoay vòng.

Phần nhân tố được tóm tắt.

471. Người mẹ của người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy nhận (con gái tôi) là người vợ (hạng) chỉ trong chốc lát và (hạng) được mua bằng của cải ...(như trên)... (hạng) chỉ trong chốc lát và (hạng) được đem lại dưới lá cờ của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Dứt phần liên quan đến một nhân tố.

Phần liên quan đến hai nhân tố cho đến phần liên quan đến chín nhân tố được thực hiện như thế.

Đây là phần có liên quan đến mười nhân tố.

472. Người mẹ của người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy nhận (con gái tôi) là người vợ (hạng) được mua bằng của cải, (hạng) sống chung do sự tự nguyện, (hạng) sống chung vì tài vật, (hạng) sống chung vì y phục, (hạng) được cưới theo nghi thức, (hạng) có vật lót ở đầu được đặt xuống, (hạng) nữ tỳ là vợ, (hạng) người làm công là vợ, (hạng) được đem lại dưới lá cờ, và (hạng) chỉ trong chốc lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

473. Người cha của người nữ được cha bảo hộ phái vị tỳ khưu đi ... Mẹ cha của người nữ được mẹ cha bảo hộ phái vị tỳ khưu đi ... Anh (em) trai của người nữ được anh (em) trai bảo hộ phái vị tỳ khưu đi ... Chị (em) gái của người nữ được chị (em) gái bảo hộ phái vị tỳ khưu đi ... Thân quyến của người nữ được thân quyến bảo hộ phái vị tỳ khưu đi ... Dòng họ của người nữ được dòng họ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi ...(như trên)... Các đồng đạo của người nữ được luân lý bảo hộ phái vị tỳ khưu đi ... Sở hữu chủ của người nữ có sự gìn giữ phái vị tỳ khưu đi ... Người quy định về hình phạt đối với người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy nhận (cô ta) là người vợ (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Người quy định về hình phạt đối với người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy nhận (cô ta) là người vợ (hạng) sống chung do sự tự nguyện ... (hạng) sống chung vì tài vật ... (hạng) sống chung vì y phục ... (hạng) được cưới theo nghi thức ... (hạng) có vật lót ở đầu được đặt xuống ... (hạng) nữ tỳ là vợ ... (hạng) người làm công là vợ ... (hạng) được đem lại dưới lá cờ ... (hạng) chỉ trong chốc lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Các phần tóm lược.

474. Người quy định về hình phạt đối với người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy nhận (cô ta) là người vợ (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) sống chung do sự tự nguyện ... (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) chỉ trong chốc lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Phần phân tích theo sự xoay vòng.

475. Người quy định về hình phạt đối với người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy nhận (cô ta) là người vợ (hạng) sống chung do sự tự nguyện và (hạng) sống chung vì tài vật ... (hạng) sống chung do sự tự nguyện và (hạng) chỉ trong chốc lát ... (hạng) sống chung do sự tự nguyện và (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Phần tổng hợp theo sự xoay vòng.

Phần nhân tố được tóm tắt.

476. Người quy định về hình phạt đối với người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy nhận (cô ta) là người vợ (hạng) chỉ trong chốc lát và (hạng) được mua bằng của cải ...(như trên)... (hạng) chỉ trong chốc lát và (hạng) được đem lại dưới lá cờ của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Dứt phần liên quan đến một nhân tố.

Phần liên quan đến hai nhân tố cho đến phần liên quan đến chín nhân tố được thực hiện như thế.

Đây là phần có liên quan đến mười nhân tố.

477. Người quy định về hình phạt đối với người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy nhận (cô ta) là người vợ (hạng) được mua bằng của cải, (hạng) sống chung do sự tự nguyện, (hạng) sống chung vì tài vật, (hạng) sống chung vì y phục, (hạng) được cưới theo nghi thức, (hạng) có vật lót ở đầu được đặt xuống, (hạng) nữ tỳ là vợ, (hạng) người làm công là vợ, (hạng) được đem lại dưới lá cờ, và (hạng) chỉ trong chốc lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

478. Người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ (hạng) sống chung do sự tự nguyện ... (hạng) sống chung vì tài vật ... (hạng) sống chung vì y phục ... (hạng) được cưới theo nghi thức ... (hạng) có vật lót ở đầu được đặt xuống ... (hạng) nữ tỳ là vợ ... (hạng) người làm công là vợ ... (hạng) được đem lại dưới lá cờ ... (hạng) chỉ trong chốc lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Các phần tóm lược.

479. Người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) sống chung do sự tự nguyện ... (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) chỉ trong chốc lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Phần phân tích theo sự xoay vòng.

480. Người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ (hạng) sống chung do sự tự nguyện và (hạng) sống chung vì tài vật ... (hạng) sống chung do sự tự nguyện và (hạng) chỉ trong chốc lát ... (hạng) sống chung do sự tự nguyện và (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Phần tổng hợp theo sự xoay vòng.

Phần nhân tố được tóm tắt.

481. Người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ (hạng) chỉ trong chốc lát và (hạng) được mua bằng của cải ...(như trên)... (hạng) chỉ trong chốc lát và (hạng) được đem lại dưới lá cờ của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Dứt phần liên quan đến một nhân tố.

Các phần liên quan đến hai nhân tố, v.v... nên được thực hiện y như thế.

Đây là phần có liên quan đến mười nhân tố.

482. Người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ (hạng) được mua bằng của cải, (hạng) sống chung do sự tự nguyện, (hạng) sống chung vì tài vật, (hạng) sống chung vì y phục, (hạng) được cưới theo nghi thức, (hạng) có vật lót ở đầu được đặt xuống, (hạng) nữ tỳ là vợ, (hạng) người làm công là vợ, (hạng) được đem lại dưới lá cờ, và (hạng) chỉ trong chốc lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

483. Người nữ được cha bảo hộ phái vị tỳ khưu đi ... Người nữ được mẹ cha bảo hộ phái vị tỳ khưu đi ... Người nữ được anh (em) trai bảo hộ phái vị tỳ khưu đi ... Người nữ được chị (em) gái bảo hộ phái vị tỳ khưu đi ... Người nữ được thân quyến bảo hộ phái vị tỳ khưu đi ... Người nữ được dòng họ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi ... Người nữ được luân lý bảo hộ phái vị tỳ khưu đi ... Người nữ có sự gìn giữ phái vị tỳ khưu đi ... Người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ (hạng) được mua bằng của cải ... (hạng) sống chung do sự tự nguyện ... (hạng) sống chung vì tài vật ... (hạng) sống chung vì y phục ... (hạng) được cưới theo nghi thức ... (hạng) có vật lót ở đầu được đặt xuống ... (hạng) nữ tỳ là vợ ... (hạng) người làm công là vợ ... (hạng) được đem lại dưới lá cờ ... (hạng) chỉ trong chốc lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Các phần tóm lược.

484. Người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) sống chung do sự tự nguyện ...(như trên)... (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) chỉ trong chốc lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Phần phân tích theo sự xoay vòng.

485. Người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ (hạng) sống chung do sự tự nguyện và (hạng) sống chung vì tài vật ... (hạng) sống chung do sự tự nguyện và (hạng) chỉ trong chốc lát ... (hạng) sống chung do sự tự nguyện và (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Phần tổng hợp theo sự xoay vòng.

Phần nhân tố được tóm tắt.

486. Người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ (hạng) chỉ trong chốc lát và (hạng) được mua bằng của cải ...(như trên)... (hạng) chỉ trong chốc lát và (hạng) được đem lại dưới lá cờ của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Dứt phần liên quan đến một nhân tố.

Các phần liên quan đến hai nhân tố, v.v... nên được thực hiện y như thế.

Đây là phần có liên quan đến mười nhân tố.

487. Người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ (hạng) được mua bằng của cải, (hạng) sống chung do sự tự nguyện, (hạng) sống chung vì tài vật, (hạng) sống chung vì y phục, (hạng) được cưới theo nghi thức, (hạng) có vật lót ở đầu được đặt xuống, (hạng) nữ tỳ là vợ, (hạng) người làm công là vợ, (hạng) được đem lại dưới lá cờ, và (hạng) chỉ trong chốc lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Dứt tất cả các phần trùng lặp theo sự xoay vòng.

488. Nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Nhận lời, thông báo, không đem lại (hồi báo) thì phạm tội trọng tội.

Nhận lời, không thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội trọng tội.

Nhận lời, không thông báo, không đem lại (hồi báo) thì phạm tội tác ác.

Không nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội trọng tội.

Không nhận lời, thông báo, không đem lại (hồi báo) thì phạm tội tác ác.

Không nhận lời, không thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tác ác.

Không nhận lời, không thông báo, không đem lại (hồi báo) thì vô tội.

489. Người đàn ông bảo nhiều vị tỳ khưu rằng: “Thưa các ngài, xin hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Tất cả nhận lời, tất cả thông báo, tất cả đem lại (hồi báo) thì tất cả phạm tội tăng tàng.

Người đàn ông bảo nhiều vị tỳ khưu rằng: “Thưa các ngài, xin hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Tất cả nhận lời, tất cả thông báo, rồi bảo một vị đem lại (hồi báo) thì tất cả phạm tội tăng tàng.

Người đàn ông bảo nhiều vị tỳ khưu rằng: “Thưa các ngài, xin hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Tất cả nhận lời, rồi bảo một vị thông báo, tất cả đem lại (hồi báo) thì tất cả phạm tội tăng tàng.

Người đàn ông bảo nhiều vị tỳ khưu rằng: “Thưa các ngài, xin hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Tất cả nhận lời, rồi bảo một vị thông báo, và bảo một vị đem lại (hồi báo) thì tất cả phạm tội tăng tàng.

Người đàn ông bảo vị tỳ khưu rằng: “Thưa ngài, xin hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Người đàn ông bảo vị tỳ khưu rằng: “Thưa ngài, xin hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Vị nhận lời, thông báo, bảo người học trò đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Người đàn ông bảo vị tỳ khưu rằng: “Thưa ngài, xin hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Vị ấy nhận lời, bảo người học trò thông báo, đích thân đem lại (hồi báo) thì phạm tội tăng tàng.

Người đàn ông bảo vị tỳ khưu rằng: “Thưa ngài, xin hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Vị ấy nhận lời, bảo người học trò thông báo, người học trò sau khi thông báo, đứng ở bên ngoài rồi đem lại (hồi báo) thì cả hai phạm tội trọng tội.

490. Khi đi làm hoàn tất, khi trở về làm trái lời dặn thì phạm tội trọng tội.

Khi đi làm trái lời dặn, khi trở về làm hoàn tất thì phạm tội trọng tội.

Khi đi làm hoàn tất, khi trở về làm hoàn tất thì phạm tội tăng tàng.

Khi đi làm trái lời dặn, khi trở về làm trái lời dặn thì vô tội.

491. Vị đi vì công việc cần thiết của hội chúng hoặc của bảo tháp hoặc của người bệnh, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.

492. Ngủ, đã chết, đi khỏi,
không phải là người nữ,
là người nữ vô căn,
gây gổ, vị khuyên giải,
và việc làm mai mối
cho hạng người vô căn.

493. Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ bảo vị tỳ khưu nọ rằng: “Thưa ngài, xin hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Vị ấy đã đi và đã hỏi mọi người rằng:

- Cô tên như vầy ở đâu?

- Thưa ngài, cô ta ngủ.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Phải chăng ta đã phạm tội tăng tàng?” Vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội tăng tàng mà phạm tội tác ác.

Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ bảo vị tỳ khưu nọ rằng: “Thưa ngài, xin hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Vị ấy đã đi và đã hỏi mọi người rằng:

- Cô tên như vầy ở đâu?

- Thưa ngài, cô ta đã chết.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội tăng tàng mà phạm tội tác ác.

Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ bảo vị tỳ khưu nọ rằng: “Thưa ngài, xin hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Vị ấy đã đi và đã hỏi mọi người rằng:

- Cô tên như vầy ở đâu?

- Thưa ngài, cô ta đã đi khỏi.

...(như trên)...

- Thưa ngài, cô ta không phải là người nữ.

...(như trên)...

- Thưa ngài, cô ta là người nữ vô căn.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. ...(như trên)...

- Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội tăng tàng mà phạm tội tác ác.

494. Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ sau khi gây gổ với chồng đã đi về nhà mẹ. Có vị tỳ khưu nọ đã làm công việc khuyên giải.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. ...(như trên)...

- Này tỳ khưu, cô ta đã bị chồng bỏ?

- Bạch Thế Tôn, cô ta không bị chồng bỏ.

- Này tỳ khưu, trường hợp không bị chồng bỏ thì vô tội.

495. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã làm mai mối cho người vô căn.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. ...(như trên)...

- Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội tăng tàng mà phạm tội trọng tội.

Dứt điều tăng tàng thứ năm.