Phân Tích Giới Bổn › Phân Tích Giới Tỳ-khưu I › III. Chương Bất Cộng Trụ thứ ba: Tội giết người · Tỳ khưu Indacanda
PTG 004 - III. CHƯƠNG BẤT CỘNG TRỤ THỨ BA - ĐOẠN 176-203
176. Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự ở thành Vesālī, Mahāvana, giảng đường Kūṭāgāra. Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn thuyết giảng về (đề mục) bất tịnh, ngợi khen về (đề mục) bất tịnh, ngợi khen sự tu tập về (đề mục) bất tịnh, ngợi khen sự chứng đạt về (đề mục) bất tịnh cho các tỳ khưu một cách cặn kẽ bằng nhiều phương thức. Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, ta muốn thiền tịnh trong nửa tháng. Không ai đến gặp ta ngoại trừ một vị mang lại vật thực.
- Bạch ngài, xin vâng. Các vị tỳ khưu ấy đã trả lời đức Thế Tôn.
Và quả thật không có vị nào đi đến gặp đức Thế Tôn ngoại trừ một vị mang lại vật thực. Các vị tỳ khưu (nghĩ rằng): “Quả thật, đức Thế Tôn thuyết giảng về (đề mục) bất tịnh, ngợi khen về (đề mục) bất tịnh, ngợi khen sự tu tập về (đề mục) bất tịnh, ngợi khen sự chứng đạt về (đề mục) bất tịnh một cách cặn kẽ bằng nhiều phương thức,” rồi các vị ấy sống chuyên chú gắn bó vào việc tu tập về (đề mục) bất tịnh do nhiều động cơ khác nhau. Các vị ấy bị khổ sở, bị xấu hổ, và nhờm gớm với cơ thể của chính mình cũng giống như người nữ hoặc người nam còn trẻ, ở tuổi thanh niên, ưa thích trang điểm, vừa mới gội đầu bị khổ sở, bị xấu hổ, và nhờm gớm với xác rắn, hoặc xác chó, hoặc thây người chết máng vào cổ; tương tợ như thế, các vị tỳ khưu ấy trong khi bị khổ sở, bị xấu hổ, và nhờm gớm với cơ thể của chính mình, (một số) tự mình đoạt lấy mạng sống của chính mình, (một số) đoạt lấy mạng sống lẫn nhau, (một số) đi đến gặp sa‑môn giả mạo Migalaṇḍika rồi nói như vầy:
- Này đạo hữu, tốt thay ngươi hãy đoạt mạng sống của chúng tôi, y và bình bát này sẽ thuộc về ngươi.
Sau đó, sa‑môn giả mạo Migalaṇḍika được trả công bằng các y và bình bát đã đoạt lấy mạng sống nhiều vị tỳ khưu rồi cầm cây gươm đẫm máu đi đến giòng sông Vaggumudā. Khi ấy, trong lúc chùi rửa cây gươm đẫm máu ấy sa‑môn giả mạo Migalaṇḍika đã khởi lên sự ăn năn, đã khởi lên nỗi ân hận: “Thật là điều không lợi ích đã có cho ta! Thật là điều lợi ích đã không có cho ta! Ta đã đạt được điều xấu! Ta đã không đạt được điều tốt! Quả thật ta đã gây ra nhiều điều bất thiện là việc ta đã đoạt lấy mạng sống của các vị tỳ khưu có giới hạnh có thiện pháp!” Khi ấy, có vị thiên nhân nọ là tùy tùng của Ma Vương đã đi đến ở trên mặt nước (nhưng mặt nước sông) vẫn không bị làm chao động và đã nói với sa‑môn giả mạo Migalaṇḍika điều này:
- Này kẻ thiện nhân, tốt lắm, tốt lắm! Này kẻ thiện nhân, điều lợi ích đã có cho ngươi! Này kẻ thiện nhân, ngươi đã đạt được điều tốt! Này kẻ thiện nhân, ngươi đã tạo nên nhiều điều thiện là việc ngươi đã giải thoát cho những kẻ chưa được giải thoát!
Khi ấy, sa‑môn giả mạo Migalaṇḍika (nghĩ rằng): “Nghe nói điều lợi ích đã có cho ta! Nghe nói ta đã đạt được điều tốt! Nghe nói ta đã tạo nên nhiều điều thiện là việc ta đã giải thoát cho những kẻ chưa được giải thoát!” rồi cầm cây gươm bén đi đến từ trú xá này đến trú xá khác, từ phòng này đến phòng khác nói như vầy:
- Vị nào chưa giải thoát? Ta giải thoát cho vị nào đây?
Tại nơi ấy, những vị tỳ khưu nào chưa dứt bỏ tham ái thì các vị ấy, vào thời điểm ấy, trở nên sợ hãi, thân run rẩy, lông dựng đứng. Còn những vị tỳ khưu nào đã dứt bỏ tham ái thì các vị ấy, vào thời điểm ấy, không trở nên sợ hãi, thân không run rẩy, lông không dựng đứng. Rồi sa‑môn giả mạo Migalaṇḍika trong một ngày đã đoạt lấy mạng sống một vị tỳ khưu, trong một ngày đã đoạt lấy mạng sống hai vị tỳ khưu, trong một ngày đã đoạt lấy mạng sống ba vị tỳ khưu, trong một ngày đã đoạt lấy mạng sống bốn vị tỳ khưu, trong một ngày đã đoạt lấy mạng sống năm vị tỳ khưu, ...(như trên)... trong một ngày đã đoạt lấy mạng sống mười vị tỳ khưu, trong một ngày đã đoạt lấy mạng sống hai mươi vị tỳ khưu, trong một ngày đã đoạt lấy mạng sống ba mươi vị tỳ khưu, trong một ngày đã đoạt lấy mạng sống bốn mươi vị tỳ khưu, trong một ngày đã đoạt lấy mạng sống năm mươi vị tỳ khưu, trong một ngày đã đoạt lấy mạng sống sáu mươi vị tỳ khưu.
177. Sau đó, khi trải qua nửa tháng ấy, đức Thế Tôn đã xuất khỏi thiền tịnh và bảo đại đức Ānanda rằng:
- Này Ānanda, có phải hội chúng tỳ khưu dường như bị ít đi?
- Bạch ngài, sở dĩ như thế là vì đức Thế Tôn thuyết giảng về (đề mục) bất tịnh, ngợi khen về (đề mục) bất tịnh, ngợi khen sự tu tập về (đề mục) bất tịnh, ngợi khen sự chứng đạt về (đề mục) bất tịnh cho các tỳ khưu một cách cặn kẽ bằng nhiều phương thức. Và bạch ngài, các vị tỳ khưu ấy (nghĩ rằng): “Quả thật, đức Thế Tôn thuyết giảng về (đề mục) bất tịnh, ngợi khen về (đề mục) bất tịnh, ngợi khen sự tu tập về (đề mục) bất tịnh, ngợi khen sự chứng đạt về (đề mục) bất tịnh một cách cặn kẽ bằng nhiều phương thức,” rồi các vị ấy sống chuyên chú gắn bó vào việc tu tập về (đề mục) bất tịnh do nhiều động cơ khác nhau. Các vị ấy bị khổ sở, bị xấu hổ, và nhờm gớm với cơ thể của chính mình. Cũng giống như người nữ hoặc người nam còn trẻ, ở tuổi thanh niên, ưa thích trang điểm, vừa mới gội đầu bị khổ sở, bị xấu hổ, và nhờm gớm với xác rắn, hoặc xác chó, hoặc thây người chết máng vào cổ; tương tợ như thế, các vị tỳ khưu ấy trong khi bị khổ sở, bị xấu hổ, và nhờm gớm với cơ thể của chính mình (một số) tự mình đoạt lấy mạng sống của chính mình, (một số) đoạt lấy mạng sống lẫn nhau, (một số) đi đến gặp sa‑môn giả mạo Migalaṇḍika rồi nói như vầy: “Này đạo hữu, tốt thay ngươi hãy đoạt mạng sống của chúng tôi, y và bình bát này sẽ thuộc về ngươi.” Bạch ngài, rồi sa‑môn giả mạo Migalaṇḍika được trả công bằng các y và bình bát trong một ngày đã đoạt lấy mạng sống một vị tỳ khưu, ...(như trên)... trong một ngày đã đoạt lấy mạng sống sáu mươi vị tỳ khưu. Bạch ngài, lành thay xin đức Thế Tôn hãy chỉ dạy phương pháp khác theo đó hội chúng tỳ khưu này có thể đạt được trí giải thoát.
- Này Ānanda, như thế thì có bao nhiêu tỳ khưu sống nương tựa vào thành Vesālī, ngươi hãy triệu tập tất cả các vị ấy ở tại phòng hội họp.
- Bạch ngài, xin vâng. Đại đức Ānanda đã đáp lời đức Thế Tôn.
Rồi có bao nhiêu tỳ khưu sống nương tựa vào thành Vesālī, đại đức Ānanda sau khi triệu tập tất cả các vị ấy ở tại phòng hội họp rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:
- Bạch ngài, hội chúng tỳ khưu đã được triệu tập. Bạch ngài, bây giờ là thời điểm của việc gì xin đức Thế Tôn hãy suy tính (về việc ấy).
178. Sau đó, đức Thế Tôn đã đi đến phòng hội họp, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Sau khi ngồi xuống, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, định của niệm hơi thở ra hơi thở vào này được tu tập, được làm cho tăng trưởng, được thanh tịnh, cao quý, thuần khiết, có lạc là sự an trú, làm biến mất ngay lập tức và làm cho tịch lặng các pháp ác và bất thiện đã sanh hoặc chưa sanh khởi. Này các tỳ khưu, cũng giống như cơn mưa lớn sái mùa vào tháng cuối của mùa nóng làm biến mất ngay lập tức và làm lắng xuống các bụi bặm đã bốc lên; này các tỳ khưu, tương tợ như thế định của niệm hơi thở ra hơi thở vào này được tu tập, được làm cho tăng trưởng, được thanh tịnh, cao quý, thuần khiết, có lạc là sự an trú làm biến mất ngay lập tức và làm cho tịch lặng các pháp ác và bất thiện đã sanh hoặc chưa sanh khởi. Và này các tỳ khưu, thế nào là định của niệm hơi thở ra hơi thở vào này được tu tập? Thế nào là được làm cho tăng trưởng, được thanh tịnh, cao quý, thuần khiết, có lạc là sự an trú làm biến mất ngay lập tức và làm cho tịch lặng các pháp ác và bất thiện đã sanh hoặc chưa sanh khởi? Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến nơi thanh vắng, ngồi xuống, xếp chân thế kiết già, giữ thân thẳng và thiết lập niệm luôn hiện diện. Có niệm, vị ấy thở ra; có niệm, vị ấy thở vào. Hoặc trong khi thở ra dài, vị ấy biết rõ: “Tôi thở ra dài;” hoặc trong khi thở vào dài, vị ấy biết rõ: “Tôi thở vào dài.” Hoặc trong khi thở ra ngắn, vị ấy biết rõ: “Tôi thở ra ngắn;” hoặc trong khi thở vào ngắn, vị ấy biết rõ: “Tôi thở vào ngắn.” “Nhận biết rõ toàn bộ hơi thở, tôi sẽ thở ra” vị ấy thực tập, “Nhận biết rõ toàn bộ hơi thở, tôi sẽ thở vào” vị ấy thực tập. “Làm cho an tịnh các thành phần của hơi thở, tôi sẽ thở ra” vị ấy thực tập, “Làm cho an tịnh các thành phần của hơi thở, tôi sẽ thở vào” vị ấy thực tập. “Nhận biết rõ hỷ, tôi sẽ thở ra” vị ấy thực tập, “Nhận biết rõ hỷ, tôi sẽ thở vào” vị ấy thực tập. “Nhận biết rõ lạc, tôi sẽ thở ra” vị ấy thực tập, “Nhận biết rõ lạc, tôi sẽ thở vào” vị ấy thực tập. “Nhận biết rõ các thành phần của tâm, tôi sẽ thở ra” vị ấy thực tập, “Nhận biết rõ các thành phần của tâm, tôi sẽ thở vào” vị ấy thực tập. “Làm cho an tịnh các thành phần của tâm, tôi sẽ thở ra” vị ấy thực tập, “Làm cho an tịnh các thành phần của tâm, tôi sẽ thở vào” vị ấy thực tập. “Nhận biết rõ tâm, tôi sẽ thở ra” vị ấy thực tập, “Nhận biết rõ tâm, tôi sẽ thở vào” vị ấy thực tập. “Tâm được hân hoan, tôi sẽ thở ra” vị ấy thực tập, “Tâm được hân hoan, tôi sẽ thở vào” vị ấy thực tập. “Tâm được định tĩnh, tôi sẽ thở ra” vị ấy thực tập, “Tâm được định tĩnh, tôi sẽ thở vào” vị ấy thực tập. “Tâm được giải thoát, tôi sẽ thở ra” vị ấy thực tập, “Tâm được giải thoát, tôi sẽ thở vào” vị ấy thực tập. “ Quán xét về vô thường, tôi sẽ thở ra” vị ấy thực tập, “Quán xét về vô thường, tôi sẽ thở vào” vị ấy thực tập. “Quán xét về ly tham, tôi sẽ thở ra” vị ấy thực tập, “Quán xét về ly tham, tôi sẽ thở vào” vị ấy thực tập. “Quán xét về đoạn diệt, tôi sẽ thở ra” vị ấy thực tập, “Quán xét về đoạn diệt, tôi sẽ thở vào” vị ấy thực tập. “Quán xét về dứt bỏ, tôi sẽ thở ra” vị ấy thực tập, “Quán xét về dứt bỏ, tôi sẽ thở vào” vị ấy thực tập. Này các tỳ khưu, định của niệm hơi thở ra hơi thở vào này được tu tập như thế, được làm cho tăng trưởng như thế, được thanh tịnh, cao quý, thuần khiết, có lạc là sự an trú làm biến mất ngay lập tức và làm cho tịch lặng các pháp ác và bất thiện đã sanh hoặc chưa sanh khởi.
179. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu (một số) tự mình đoạt lấy mạng sống của chính mình, (một số) đoạt lấy mạng sống lẫn nhau, (một số) đi đến gặp sa‑môn giả mạo Migalaṇḍika nói như vầy: “Này đạo hữu, tốt thay ngươi hãy đoạt mạng sống của chúng tôi, y và bình bát này sẽ thuộc về ngươi,” có đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này các tỳ khưu, thật không đúng đắn cho những tỳ khưu ấy, thật không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp sa‑môn, không được phép, không nên làm! Này các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ấy lại tự mình đoạt lấy mạng sống của chính mình, lại đoạt lấy mạng sống lẫn nhau, lại đi đến gặp sa‑môn giả mạo Migalaṇḍika nói như vầy: “Này đạo hữu, tốt thay ngươi hãy đoạt mạng sống của chúng tôi, y và bình bát này sẽ thuộc về ngươi” vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)... Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào cố ý đoạt lấy mạng sống con người hoặc tìm cách đem lại vũ khí cho người ấy; vị này cũng là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú.” Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
180. Vào lúc bấy giờ, có người nam cư sĩ nọ bị bệnh. Vợ của người ấy thì đẹp dáng, đáng nhìn, khả ái. Các tỳ khưu nhóm Lục Sư đem lòng say đắm người đàn bà ấy. Khi ấy, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã bàn bạc rằng: “Này các đại đức, nếu người nam cư sĩ ấy còn sống thì chúng ta sẽ không đạt được người đàn bà ấy. Này các đại đức, vậy chúng ta hãy ca ngợi lợi ích của sự chết đến người nam cư sĩ ấy.” Sau đó, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã đi đến gặp người nam cư sĩ ấy, sau khi đến đã nói với người nam cư sĩ ấy điều này:
- Này cư sĩ, quả thật ngươi có điều tốt đã làm, có điều thiện đã làm, sự sợ hãi lúc lâm chung đã được khắc phục, có điều ác không làm, điều tàn bạo không làm, điều tội lỗi không làm, ngươi đã làm điều tốt đẹp, ngươi đã không làm điều ác, vậy thì còn gì cho ngươi với mạng sống tội lỗi xấu xa này, sự chết đối với ngươi còn tốt hơn sự sống vậy. Từ chỗ này, khi tuổi thọ đã hết, khi tan rã thân xác và chết đi, ngươi sẽ được sanh về cảnh giới tốt đẹp là cõi trời, loài người. Ở đó, được cung phụng và được sở hữu năm loại dục lạc thiên đường, ngươi sẽ mãn nguyện.
Khi ấy, người nam cư sĩ ấy (nghĩ rằng): “Các ngài đại đức đã nói sự thật bởi vì ta là người có điều tốt đã làm, có điều thiện đã làm, sự sợ hãi lúc lâm chung đã được khắc phục, có điều ác không làm, điều tàn bạo không làm, điều tội lỗi không làm, ta đã làm điều tốt đẹp, ta đã không làm điều ác, vậy thì còn gì cho ta với mạng sống tội lỗi xấu xa này, sự chết đối với ta còn tốt hơn sự sống vậy. Từ chỗ này, khi tuổi thọ đã hết, khi tan rã thân xác và chết đi, ta sẽ được tái sanh về cảnh giới tốt đẹp là cõi trời, loài người. Ở đó, được cung phụng và được sở hữu năm loại dục lạc thiên đường, ta sẽ mãn nguyện.” Và người ấy đã ăn những vật thực mềm không thích hợp, đã nhai những vật thực cứng không thích hợp, đã nếm những thức nếm không thích hợp, và đã uống những thức uống không thích hợp. Khi người ấy đã ăn những vật thực mềm không thích hợp, đã nhai những vật thực cứng không thích hợp, đã nếm những thức nếm không thích hợp, và đã uống những thức uống không thích hợp, cơn bệnh ngặt nghèo đã phát khởi. Chính vì cơn bệnh ấy, người ấy đã từ trần. Vợ của người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Các sa‑môn Thích tử này không biết hổ thẹn, giới hạnh xấu xa, nói láo. Chính các vị này làm ra vẻ là có sự thực hành Pháp, có thực hành sự an tịnh, có Phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp! Các vị này không có sa‑môn hạnh, các vị này không có Phạm hạnh! Sa‑môn hạnh của các vị này đã bị hư hỏng, Phạm hạnh của các vị này đã bị hư hỏng! Sa‑môn hạnh của các vị này đâu rồi? Phạm hạnh của các vị này đâu rồi? Sa‑môn hạnh của các vị này đã không còn! Phạm hạnh của các vị này đã không còn! Các vị này đã ca ngợi lợi ích của sự chết đến chồng của tôi. Chồng của tôi đã bị giết chết bởi các vị này.
Những người khác cũng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Các sa‑môn Thích tử này không có khiêm tốn, ác giới, nói láo. Bởi vì các vị này làm ra vẻ là có sự thực hành Pháp, có thực hành sự an tịnh, có Phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp (nhưng) các vị này không có sa‑môn hạnh! Các vị này không có Phạm hạnh! Sa‑môn hạnh của các vị này đã bị hư hỏng! Phạm hạnh của các vị này đã bị hư hỏng! Sa‑môn hạnh của các vị này đâu rồi? Phạm hạnh của các vị này đâu rồi? Sa‑môn hạnh của các vị này đã không còn! Phạm hạnh của các vị này đã không còn! Các vị này đã ca ngợi lợi ích của sự chết đến người nam cư sĩ. Người nam cư sĩ đã bị giết chết bởi các vị này.
Các tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai.
Các tỳ khưu ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại ca ngợi lợi ích của sự chết đến người nam cư sĩ?
Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ...(như trên)...
- Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi đã ca ngợi lợi ích của sự chết đến người nam cư sĩ, có đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này những kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp sa‑môn, không được phép, không nên làm! Này những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại ca ngợi lợi ích của sự chết đến người nam cư sĩ vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)... Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào cố ý đoạt lấy mạng sống con người, hoặc tìm cách đem lại vũ khí cho người ấy, hoặc ca ngợi lợi ích của sự chết, hoặc xúi giục đưa đến sự chết: “Này người ơi, còn gì cho ngươi với mạng sống tội lỗi xấu xa này, sự chết đối với ngươi còn tốt hơn sự sống!” Vị có tâm ý và có tâm tư như thế rồi bằng nhiều phương thức ca ngợi lợi ích của sự chết hoặc xúi giục đưa đến sự chết, vị này cũng là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú.”
181. Vị nào:
là bất cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ khưu: ...(như trên)...
Vị này là “vị tỳ khưu” được đề cập trong ý nghĩa này.
Cố ý: là sự vi phạm trong khi biết, trong khi có ý định, sau khi đã suy nghĩ, sau khi đã khẳng định.
Con người nghĩa là vật gì ở khoảng giữa thời gian từ lúc tâm đầu tiên được sanh lên (tức là) thức đầu tiên hiện hữu trong bụng mẹ cho đến lúc chết; vật ấy gọi là con người
Đoạt lấy mạng sống: cắt đứt mạng quyền, làm hủy hoại, làm tổn hại sự tiếp nối.
Hoặc tìm cách đem lại vũ khí cho người ấy: hoặc là thanh gươm, hoặc là cây giáo, hoặc là mũi tên, hoặc là cọc nhọn, hoặc là dùi cui, hoặc là tảng đá, hoặc là cây kiếm, hoặc là thuốc độc, hoặc là dây thừng.
182. Hoặc ca ngợi lợi ích của sự chết: làm cho thấy được sự nguy hiểm trong sự sống và nói khen ngợi về sự chết.
183. Hoặc xúi giục đưa đến sự chết: (Nói rằng): “Hãy mang lại cây kiếm, hoặc hãy nhai thuốc độc, hoặc hãy dùng dây thừng treo lên rồi chết đi.”
184. Này người ơi: Đây là lối nói xưng hô “Này người ơi!”
Còn gì cho ngươi với mạng sống tội lỗi xấu xa này, sự chết đối với ngươi còn tốt hơn sự sống: Cuộc sống nghĩa là tội lỗi. So với cuộc sống của những người giàu, cuộc sống của những người nghèo là tội lỗi. So với cuộc sống của những người có tài sản, cuộc sống của những người không có tài sản là tội lỗi. So với cuộc sống của chư thiên, cuộc sống của loài người là tội lỗi.
Mạng sống xấu xa nghĩa là đối với người bị cụt tay, đối với người bị cụt chân, đối với người bị cụt tay và chân, đối với người bị đứt tai, đối với người bị đứt mũi, đối với người bị đứt tai và mũi (nói rằng): “Còn gì với sự tội lỗi này, với mạng sống xấu xa này, sự chết đối với ngươi còn tốt hơn sự sống!”
Có tâm ý như thế: Ý nào tâm nấy, tâm nào ý nấy.
Có tâm tư: có sự suy tưởng về sự chết, có sự suy tư về sự chết, có sự suy nghĩ về sự chết
Bằng nhiều phương thức: bằng nhiều cách khác nhau.
Ca ngợi lợi ích của sự chết: làm cho thấy được sự bất hạnh trong mạng sống và nói lời khen ngợi về sự chết: “Từ chỗ này, khi tuổi thọ đã hết, khi tan rã thân xác và chết đi, ngươi sẽ được tái sanh về cảnh giới tốt đẹp là cõi trời, loài người. Ở đó, được cung phụng và được sở hữu năm loại dục lạc thiên đường, ngươi sẽ mãn nguyện.”
185. Hoặc xúi giục đưa đến sự chết: (Nói rằng): “Hãy mang lại cây kiếm, hoặc hãy nhai thuốc độc, hoặc hãy dùng dây thừng treo lên rồi chết đi, hoặc nhảy vào khe nứt, vào hố sâu, xuống vực thẳm.”
186. Vị này cũng: được đề cập liên quan đến các vị trước đây.
Là vị phạm tội pārājika: cũng giống như tảng đá lớn bị bể làm hai không thể gắn liền lại được; tương tợ như thế, vị tỳ khưu cố ý đoạt lấy mạng sống con người thì không phải là sa‑môn, không phải là Thích tử; vì thế được gọi là “vị phạm tội pārājika.”
Không được cộng trú: Sự cộng trú nghĩa là có chung hành sự, có chung việc đọc tụng (giới bổn Pātimokkha), có sự học tập giống nhau, điều ấy gọi là sự cộng trú. Vị ấy không có được điều ấy, vì thế được gọi là “không được cộng trú.”
187. Tự mình, bằng cách khẳng định, bằng người đưa tin, bằng người đưa tin theo lối dây chuyền, bằng người đưa tin không theo lối dây chuyền, bằng người đưa tin đã đi rồi quay trở lại, hiện diện nghĩ là không hiện diện, không hiện diện nghĩ là hiện diện, hiện diện nghĩ là hiện diện, không hiện diện nghĩ là không hiện diện, vị ca ngợi bằng thân, vị ca ngợi bằng lời nói, vị ca ngợi bằng thân và bằng lời nói, vị ca ngợi bằng người đưa tin, vị ca ngợi bằng chữ khắc, cái hố đào, sự trợ giúp, việc để bên cạnh, dược phẩm, sự đem lại cảnh sắc, sự đem lại cảnh thinh, sự đem lại cảnh khí, sự đem lại cảnh vị, sự đem lại cảnh xúc, sự đem lại cảnh pháp, sự chỉ bảo, sự dạy dỗ, hành động theo giờ hẹn, hành động theo dấu hiệu.
188. Tự mình: vị đích thân giết bằng (cách sử dụng) thân thể (tay, chân, nắm đấm, đầu gối, v.v...), hoặc bằng vật dính liền với thân thể (gươm, dao, v.v...), hoặc bằng vật được phóng ra (ví dụ mũi tên).
Bằng cách khẳng định: sau khi khẳng định rồi ra lệnh rằng: “Ngươi hãy đâm như vầy, hãy đánh như vầy, hãy giết như vầy.”
189. Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy đoạt lấy mạng sống người tên như vầy” thì phạm tội tác ác. Vị kia nhận biết người ấy rồi đoạt lấy mạng sống của người ấy thì cả hai phạm tội pārājika.
Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy đoạt lấy mạng sống người tên như vầy” thì phạm tội tác ác. Vị kia nhận biết người ấy rồi đoạt lấy mạng sống của người khác thì vị khởi xướng vô tội còn vị giết người phạm tội pārājika.
Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy đoạt lấy mạng sống người tên như vầy” thì phạm tội tác ác. Vị kia nhận biết người khác rồi đoạt lấy mạng sống của người ấy thì cả hai phạm tội pārājika.
Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy đoạt lấy mạng sống người tên như vầy” thì phạm tội tác ác. Vị kia nhận biết người khác rồi đoạt lấy mạng sống của người khác thì vị khởi xướng vô tội còn vị giết người phạm tội pārājika.
190. Vị tỳ khưu (A) chỉ thị vị tỳ khưu (B) rằng: “Hãy bảo vị tên (C) rằng: Vị tên (C) hãy nói với vị tên (D) rằng: ‘Vị tên (D) hãy đoạt lấy mạng sống người tên như vầy’” thì vị ấy (A) phạm tội tác ác. Vị (nào) nói cho vị khác thì vị (nói) ấy phạm tội tác ác. Vị giết người (D) đồng ý thì vị khởi xướng (A) phạm tội trọng tội; vị ấy (D) đoạt lấy mạng sống của người ấy thì tất cả đều phạm tội pārājika.
Vị tỳ khưu (A) chỉ thị vị tỳ khưu (B) rằng: “Hãy bảo vị tên (C) rằng: Vị tên (C) hãy nói với vị tên (D) rằng: ‘Vị tên (D) hãy đoạt lấy mạng sống người tên như vầy’” thì vị ấy (A) phạm tội tác ác. Vị ấy (B) chỉ thị vị khác (D) thì vị ấy (B) phạm tội tác ác. Vị giết người (D) đồng ý thì vị ấy (D) phạm tội tác ác; vị ấy (D) đoạt lấy mạng sống của người ấy thì vị khởi xướng (A) vô tội, vị truyền chỉ thị (B) và vị giết người (D) phạm tội pārājika.
191. Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy đoạt lấy mạng sống người tên như vầy” thì phạm tội tác ác. Vị kia đi rồi quay trở lại (nói rằng): “Tôi không thể đoạt lấy mạng sống người ấy.” Vị ấy lại chỉ thị thêm: “Khi nào ngươi có thể thì khi ấy ngươi hãy đoạt lấy mạng sống người ấy” thì phạm tội tác ác. Vị kia đoạt lấy mạng sống người ấy thì cả hai phạm tội pārājika.
192. Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy đoạt lấy mạng sống người tên như vầy” thì phạm tội tác ác. Sau khi chỉ thị, vị ấy có sự hối hận nhưng không nói rõ cho vị kia nghe rằng: “Chớ có giết.” Vị kia đoạt lấy mạng sống người ấy thì cả hai phạm tội pārājika. Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy đoạt lấy mạng sống người tên như vầy” thì phạm tội tác ác. Sau khi chỉ thị, vị ấy có sự hối hận rồi nói rõ cho vị kia nghe rằng: “Chớ có giết.” Vị kia (đáp lại rằng): “Tôi đã được ngài chỉ thị” rồi đoạt lấy mạng sống người ấy thì vị khởi xướng vô tội, còn vị giết người phạm tội pārājika. Vị tỳ khưu chỉ thị vị tỳ khưu rằng: “Hãy đoạt lấy mạng sống người tên như vầy” thì phạm tội tác ác. Sau khi chỉ thị, vị ấy có sự hối hận rồi nói rõ cho vị kia nghe rằng: “Chớ có giết.” Vị kia (đáp lại rằng): “Tốt thôi” rồi ngưng lại thì cả hai vô tội.
193. Hiện diện, nghĩ là không hiện diện rồi xác định rằng: “Người tên như vầy nên bị giết” thì phạm tội tác ác. Không hiện diện, nghĩ là hiện diện rồi xác định rằng: “Người tên như vầy nên bị giết” thì phạm tội tác ác. Hiện diện, nghĩ là hiện diện rồi xác định rằng: “Người tên như vầy nên bị giết” thì phạm tội tác ác. Không hiện diện, nghĩ là không hiện diện rồi xác định rằng: “Người tên như vầy nên bị giết” thì phạm tội tác ác.
194. Vị ca ngợi bằng thân nghĩa là vị làm cử chỉ bằng thân: “Người nào chết như vầy, người ấy đạt được tài sản, hoặc đạt được danh vọng, hoặc sanh về cõi trời” thì phạm tội tác ác. (Đối tượng nghĩ rằng): “Ta sẽ chết theo cách khen ngợi ấy” rồi gây nên cảm thọ khổ thì (vị ấy) phạm tội trọng tội. (Đối tượng) chết đi thì (vị ấy) phạm tội pārājika.
Vị ca ngợi bằng lời nói nghĩa là vị phát ngôn bằng lời nói: “Người nào chết như vầy, người ấy đạt được tài sản, hoặc đạt được danh vọng, hoặc sanh về cõi trời” thì phạm tội tác ác. (Đối tượng nghĩ rằng): “Ta sẽ chết theo cách khen ngợi ấy” rồi gây nên cảm thọ khổ thì (vị ấy) phạm tội trọng tội. (Đối tượng) chết đi thì (vị ấy) phạm tội pārājika.
Vị ca ngợi bằng thân và bằng lời nói nghĩa là vị làm cử chỉ bằng thân và phát ngôn bằng lời nói: “Người nào chết như vầy, người ấy đạt được tài sản, hoặc đạt được danh vọng, hoặc sanh về cõi trời” thì phạm tội tác ác. (Đối tượng nghĩ rằng): “Ta sẽ chết theo cách khen ngợi ấy” rồi gây nên cảm thọ khổ thì (vị ấy) phạm tội trọng tội. (Đối tượng) chết đi thì (vị ấy) phạm tội pārājika.
195. Vị ca ngợi bằng người đưa tin nghĩa là vị nói ra lời chỉ dẫn cho người đưa tin: “Người nào chết như vầy, người ấy đạt được tài sản, hoặc đạt được danh vọng, hoặc sanh về cõi trời” thì phạm tội tác ác. Sau khi nghe lời chỉ dẫn của người đưa tin, (đối tượng nghĩ rằng): “Ta sẽ chết theo cách khen ngợi ấy” rồi gây nên cảm thọ khổ thì (vị ấy) phạm tội trọng tội. (Đối tượng) chết đi thì (vị ấy) phạm tội pārājika.
Vị ca ngợi bằng chữ khắc nghĩa là vị khắc chữ: “Người nào chết như vầy, người ấy đạt được tài sản, hoặc đạt được danh vọng, hoặc sanh về cõi trời” thì phạm tội tác ác với mỗi mẫu tự. (Đối tượng) sau khi nhìn thấy chữ khắc (nghĩ rằng): “Ta sẽ chết” rồi gây nên cảm thọ khổ thì (vị ấy) phạm tội trọng tội. (Đối tượng) chết đi thì (vị ấy) phạm tội pārājika.
196. Cái hố đào nghĩa là vị đào cái hố dành cho người (nghĩ rằng): “Người rơi xuống sẽ chết” thì phạm tội tác ác. Khi đã bị rơi xuống, cảm thọ khổ sanh khởi (cho đối tượng) thì (vị ấy) phạm tội trọng tội. (Đối tượng) chết đi thì (vị ấy) phạm tội pārājika.
(Vị) đào cái hố không dành riêng cho ai (nghĩ rằng): “Bất cứ ai rơi xuống sẽ chết” thì phạm tội tác ác. (Nếu) con người rơi vào cái hố ấy thì (vị ấy) phạm tội tác ác. Khi đã bị rơi xuống, cảm thọ khổ sanh khởi (cho đối tượng) thì (vị ấy) phạm tội trọng tội. (Đối tượng) chết đi thì (vị ấy) phạm tội pārājika. (Nếu) dạ‑xoa, hoặc ngạ quỷ, hoặc thú có dạng người rơi vào cái hố ấy thì (vị ấy) phạm tội tác ác. Khi đã bị rơi xuống, cảm thọ khổ sanh khởi (cho đối tượng) thì (vị ấy) phạm tội tác ác. (Đối tượng) chết đi thì (vị ấy) phạm tội trọng tội. (Nếu) thú vật rơi vào cái hố ấy thì (vị ấy) phạm tội tác ác. Khi đã bị rơi xuống, cảm thọ khổ sanh khởi (cho đối tượng) thì (vị ấy) phạm tội tác ác. (Đối tượng) chết đi thì (vị ấy) phạm tội ưng đối trị.
197. Sự trợ giúp nghĩa là trong sự trợ giúp (vị ấy) đặt vũ khí, hoặc thoa thuốc độc, hoặc làm cho yếu đi, hoặc đem để ở chỗ khe nứt hoặc ở hố sâu hoặc nơi vực thẳm (nghĩ rằng): “Với việc này, người rơi xuống sẽ chết” thì phạm tội tác ác. Do vũ khí, hoặc do thuốc độc, hoặc do bị rơi xuống khiến cảm thọ khổ sanh khởi (cho đối tượng) thì (vị ấy) phạm tội trọng tội. (Đối tượng) chết đi thì (vị ấy) phạm tội pārājika.
198. Việc để bên cạnh nghĩa là đem lại gần bên hoặc là thanh gươm, hoặc là cây giáo, hoặc là mũi tên, hoặc là cọc nhọn, hoặc là dùi cui, hoặc là tảng đá, hoặc là cây kiếm, hoặc là thuốc độc, hoặc là dây thừng (nghĩ rằng): “(Người ấy) sẽ chết bằng vật này” thì phạm tội tác ác. (Đối tượng) (nghĩ rằng): “Ta sẽ chết bằng vật ấy” rồi gây nên cảm thọ khổ thì (vị ấy) phạm tội trọng tội. (Đối tượng) chết đi thì (vị ấy) phạm tội pārājika.
199. Dược phẩm nghĩa là vị trao cho bơ lỏng (sappi), bơ đặc, dầu ăn (telaṃ), mật (madhu), đường mía (nghĩ rằng): “Sau khi nếm vật này (người ấy) sẽ chết” thì phạm tội tác ác. Trong khi nếm vật ấy, cảm thọ khổ sanh khởi (cho đối tượng) thì (vị ấy) phạm tội trọng tội. (Đối tượng) chết đi thì (vị ấy) phạm tội pārājika.
200. Sự đem lại cảnh sắc nghĩa là vị đem lại cảnh sắc trái ý, dễ sợ, khủng khiếp (nghĩ rằng): “Sau khi nhìn thấy cảnh sắc này (người ấy) sẽ bị hoảng hốt và chết đi” thì phạm tội tác ác. Sau khi nhìn thấy cảnh sắc ấy, (đối tượng) bị hoảng hốt thì (vị ấy) phạm tội trọng tội. (Đối tượng) chết đi thì (vị ấy) phạm tội pārājika. (Vị) đem lại cảnh sắc hợp ý, dễ thương, đáng yêu (nghĩ rằng): “Sau khi nhìn thấy cảnh sắc này (người ấy) sẽ bị thất vọng vì không đạt được và chết đi” thì phạm tội tác ác. Sau khi nhìn thấy cảnh sắc ấy, (đối tượng) bị thất vọng vì không đạt được thì (vị ấy) phạm tội trọng tội. (Đối tượng) chết đi thì (vị ấy) phạm tội pārājika.
Sự đem lại cảnh thinh nghĩa là vị đem lại cảnh thinh trái ý, dễ sợ, khủng khiếp (nghĩ rằng): “Sau khi nghe được tiếng này (người ấy) sẽ bị hoảng hốt và chết đi” thì phạm tội tác ác. Sau khi nghe được tiếng ấy, (đối tượng) bị hoảng hốt thì (vị ấy) phạm tội trọng tội. (Đối tượng) chết đi thì (vị ấy) phạm tội pārājika. (Vị) đem lại cảnh thinh hợp ý, dễ thương, đáng yêu (nghĩ rằng): “Sau khi nghe được tiếng này (người ấy) sẽ bị thất vọng vì không đạt được và chết đi” thì phạm tội tác ác. Sau khi nghe được tiếng ấy, (đối tượng) bị thất vọng vì không đạt được thì (vị ấy) phạm tội trọng tội. (Đối tượng) chết đi thì (vị ấy) phạm tội pārājika.
Sự đem lại cảnh khí nghĩa là vị đem lại cảnh khí trái ý, ghê tởm, khó chịu (nghĩ rằng): “Sau khi ngửi mùi này (người ấy) sẽ có sự ghê tởm và khó chịu rồi chết đi” thì phạm tội tác ác. Sau khi ngửi mùi ấy, (đối tượng) có sự ghê tởm và khó chịu, cảm thọ khổ sanh khởi thì (vị ấy) phạm tội trọng tội. (Đối tượng) chết đi thì (vị ấy) phạm tội pārājika. (Vị) đem lại cảnh khí hợp ý (nghĩ rằng): “Sau khi ngửi mùi này (người ấy) sẽ bị thất vọng vì không đạt được và chết đi” thì phạm tội tác ác. Sau khi ngửi mùi ấy, (đối tượng) bị thất vọng vì không đạt được thì (vị ấy) phạm tội trọng tội. (Đối tượng) chết đi thì (vị ấy) phạm tội pārājika.
Sự đem lại cảnh vị nghĩa là vị đem lại cảnh vị trái ý, ghê tởm, khó chịu (nghĩ rằng): “Sau khi nếm vị này (người ấy) sẽ có sự ghê tởm và khó chịu rồi chết đi” thì phạm tội tác ác. Sau khi nếm thử vị ấy, (đối tượng) có sự ghê tởm và khó chịu, cảm thọ khổ sanh khởi thì (vị ấy) phạm tội trọng tội. (Đối tượng) chết đi thì (vị ấy) phạm tội pārājika. (Vị) đem lại cảnh vị hợp ý (nghĩ rằng): “Sau khi nếm vị này (người ấy) sẽ bị thất vọng vì không đạt được và chết đi” thì phạm tội tác ác. Sau khi nếm vị ấy, (đối tượng) bị thất vọng vì không đạt được thì (vị ấy) phạm tội trọng tội. (Đối tượng) chết đi thì (vị ấy) phạm tội pārājika.
Sự đem lại cảnh xúc nghĩa là vị đem lại cảnh xúc trái ý, gây đau đớn, thô cứng (nghĩ rằng): “Đụng chạm vào vật này (người ấy) sẽ chết đi” thì phạm tội tác ác. Khi (đối tượng) đụng chạm vật ấy, cảm thọ khổ sanh khởi thì (vị ấy) phạm tội trọng tội. (Đối tượng) chết đi thì (vị ấy) phạm tội pārājika. (Vị) đem lại cảnh xúc hợp ý, gây khoái lạc, mềm mại (nghĩ rằng): “Đụng chạm vào vật này (người ấy) sẽ bị thất vọng vì không đạt được và chết đi” thì phạm tội tác ác. Khi đụng chạm vật ấy, (đối tượng) bị thất vọng vì không đạt được thì (vị ấy) phạm tội trọng tội. (Đối tượng) chết đi thì (vị ấy) phạm tội pārājika.
Sự đem lại cảnh pháp nghĩa là vị thuyết bài giảng về địa ngục của người đi địa ngục (nghĩ rằng): “Sau khi nghe điều này (người ấy) sẽ bị hoảng hốt và chết đi” thì phạm tội tác ác. Sau khi nghe được điều ấy, (đối tượng) bị hoảng hốt thì (vị ấy) phạm tội trọng tội. (Đối tượng) chết đi thì (vị ấy) phạm tội pārājika. (Vị) thuyết bài giảng về cõi trời của nghiệp lành (nghĩ rằng): “Sau khi nghe điều này (người ấy) sẽ bị tác động rồi chết đi” thì phạm tội tác ác. Sau khi nghe được điều ấy, (đối tượng) bị tác động (nghĩ rằng): “Ta sẽ chết” rồi gây nên cảm thọ khổ thì (vị ấy) phạm tội trọng tội. (Đối tượng) chết đi thì (vị ấy) phạm tội pārājika.
201. Sự chỉ bảo nghĩa là khi được hỏi, vị nói rằng: “Nên chết như vầy, người nào chết như vầy người ấy đạt được tài sản, hoặc đạt được danh vọng, hoặc sanh về cõi trời” thì phạm tội tác ác. (Đối tượng nghĩ rằng): “Ta sẽ chết theo cách chỉ bảo ấy” rồi gây nên cảm thọ khổ thì (vị ấy) phạm tội trọng tội. (Đối tượng) chết đi thì (vị ấy) phạm tội pārājika.
Sự dạy dỗ nghĩa là khi không được hỏi, vị nói rằng: “Nên chết như vầy, người nào chết như vầy người ấy đạt được tài sản, hoặc đạt được danh vọng, hoặc sanh về cõi trời” thì phạm tội tác ác. (Đối tượng nghĩ rằng): “Ta sẽ chết theo cách dạy dỗ ấy” rồi gây nên cảm thọ khổ thì (vị ấy) phạm tội trọng tội. (Đối tượng) chết đi thì (vị ấy) phạm tội pārājika.
202. Hành động theo giờ hẹn nghĩa là quy định giờ hẹn hoặc là trước bữa ăn, hoặc là sau bữa ăn, hoặc là ban đêm, hoặc là ban ngày. (Bảo rằng): “Hãy đoạt lấy mạng sống người ấy vào giờ hẹn ấy” thì phạm tội tác ác; (nếu vị kia) đoạt lấy mạng sống người ấy vào giờ hẹn ấy thì cả hai phạm tội pārājika; (nếu vị kia) đoạt lấy mạng sống người ấy trước hay sau giờ hẹn ấy thì vị khởi xướng vô tội còn vị giết người phạm tội pārājika.
Hành động theo dấu hiệu nghĩa là vị làm dấu hiệu (bảo rằng): “Tôi sẽ nháy mắt, hoặc là tôi sẽ nhướng mày, hoặc là tôi sẽ ngẩng đầu lên, ngươi hãy đoạt lấy mạng sống người ấy theo dấu hiệu ấy” thì phạm tội tác ác; (nếu vị kia) đoạt lấy mạng sống người ấy theo dấu hiệu ấy thì cả hai phạm tội pārājika; (nếu vị kia) đoạt lấy mạng sống người ấy trước hay sau dấu hiệu ấy thì vị khởi xướng vô tội còn vị giết người phạm tội pārājika.
203. Vị không cố ý, vị không biết, vị không có ý muốn gây tử vong, vị bị điên, vị có tâm bị rối loạn, vị bị thọ khổ hành hạ, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt tụng phẩm thứ nhất về tội pārājika vì giết người.