Phân Tích Giới Bổn › Phân Tích Giới Tỳ-khưu I › I. Chương Bất Cộng Trụ thứ nhất: Tội thực hiện việc đôi lứa · Tỳ khưu Indacanda
PTG 002 - I. CHƯƠNG BẤT CỘNG TRỤ THỨ NHẤT - ĐOẠN 23-47
23. Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu nhóm Vajjīputtaka cư trú ở Vesālī đã thọ thực theo ý thích, ngủ theo ý thích, tắm theo ý thích. Sau khi đã thọ thực theo ý thích, sau khi đã ngủ theo ý thích, sau khi đã tắm theo ý thích, sau khi đã tác ý không chơn chánh, các vị ấy đã thực hiện việc đôi lứa khi chưa lìa bỏ sự học tập và chưa bày tỏ lòng yếu nhược. Thời gian sau đó, các vị ấy bị tác động bởi sự bất hạnh của quyến thuộc, bởi sự bất hạnh về tài sản, bởi sự bất hạnh về bệnh hoạn nên đi đến gặp đại đức Ānanda và nói như vầy:
- Thưa ngài Ānanda, chúng tôi không phải là những người chê bai đức Phật, không phải là những người chê bai đức Pháp, không phải là những người chê bai đức Tăng. Thưa ngài Ānanda, chúng tôi là những người chê bai chính mình, là những người không chê bai kẻ khác. Chính chúng tôi không có may mắn, chúng tôi có phước báu ít ỏi, chúng tôi đây sau khi xuất gia trong Pháp và Luật được khéo thuyết giảng như vầy lại không thể thực hành Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn đến cuối cuộc đời. Thưa ngài Ānanda, giờ đây nếu chúng tôi có thể đạt được sự xuất gia trong sự chứng minh của đức Phật, có thể đạt được sự tu lên bậc trên, thì giờ đây chúng tôi có thể là những người hành Minh Sát, có thể sống gắn bó với sự tu tập về các thiện pháp tức là các pháp có liên quan đến sự giác ngộ vào đầu đêm và cuối đêm. Thưa ngài Ānanda, tốt thay xin ngài hãy trình sự việc này lên đức Thế Tôn.
- Này các đại đức, được rồi.
Nghe theo các vị nhóm Vajjīputtaka cư trú ở Vesālī, đại đức Ānanda đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này Ānanda, việc Như Lai có thể hủy bỏ điều học pārājika đã được quy định cho các đệ tử vì lý do của các vị Vajjī hoặc của những người con trai của các vị Vajjī là điều không có cơ sở và không hợp lý.
24. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào khi chưa lìa bỏ sự học tập và chưa bày tỏ lòng yếu nhược mà thực hiện việc đôi lứa thì vị ấy không được tu lên bậc trên trong tương lai. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào sau khi lìa bỏ sự học tập và sau khi tuyên bố sự yếu nhược rồi thực hiện việc đôi lứa thì vị ấy được tu lên bậc trên trong tương lai. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào thọ trì sự học tập và lối sống của các tỳ khưu, khi chưa lìa bỏ sự học tập và chưa bày tỏ lòng yếu nhược, mà thực hiện việc đôi lứa ngay cả với loài thú cái là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú.”
25. Vị nào: là bất cứ vị nào có mối quan hệ như vầy, có giai cấp như vầy, có tên như vầy, có họ như vầy, có giới hạnh như vầy, có trú xứ như vầy, có hành xứ như vầy, là vị trưởng lão (trên mười năm tỳ khưu), mới tu (dưới năm năm), hoặc trung niên (trên năm năm); vị ấy được gọi là “vị nào.”
26. Tỳ khưu: “Vị đi khất thực” là tỳ khưu. “Vị chấp nhận việc đi khất thực” là tỳ khưu. “Vị mặc y đã được cắt rời” là tỳ khưu. Là tỳ khưu do sự thừa nhận. Là tỳ khưu do tự mình xác nhận. Là tỳ khưu khi được (đức Phật) nói rằng: “Này tỳ khưu, hãy đi đến.” “Vị đã tu lên bậc trên bằng Tam Quy” là tỳ khưu. “Vị hiền thiện” là tỳ khưu. “Vị có thực chất” là tỳ khưu. “Vị thánh hữu học” là tỳ khưu. “Vị thánh vô học” là tỳ khưu. “Vị đã được tu lên bậc trên với hội chúng hợp nhất bằng hành sự có lời thông báo đến lần thứ tư, không sai sót, đáng được duy trì” là tỳ khưu. Ở đây, vị tỳ khưu đã được tu lên bậc trên với hội chúng hợp nhất, bằng hành sự có lời thông báo đến lần thứ tư, không sai sót, đáng được duy trì, vị này là “vị tỳ khưu” được đề cập trong ý nghĩa này.
27. Sự học tập: Có ba sự học tập: sự học tập về tăng thượng giới, sự học tập về tăng thượng tâm, sự học tập về tăng thượng tuệ. Ở đây, “sự học tập” được đề cập trong ý nghĩa này là sự học tập về tăng thượng giới.
28. Lối sống nghĩa là điều học nào đã được đức Thế Tôn quy định, điều học ấy gọi là lối sống. Vì thế, vị học tập theo lối sống ấy được gọi là “thọ trì lối sống.”
29. Khi chưa lìa bỏ sự học tập và chưa bày tỏ lòng yếu nhược: Này các tỳ khưu, có sự bày tỏ lòng yếu nhược mà sự học tập chưa được lìa bỏ. Này các tỳ khưu, có sự bày tỏ lòng yếu nhược và sự học tập được lìa bỏ.
30. Này các tỳ khưu, thế nào là có sự bày tỏ lòng yếu nhược mà sự học tập chưa được lìa bỏ?
Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu bị bực bội, không thỏa thích, có ý định từ biệt hạnh sa‑môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn, chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ, mong mỏi thân phận cư sĩ, mong mỏi thân phận người phụ việc chùa, mong mỏi thân phận sa di, mong mỏi thân phận ngoại đạo, mong mỏi thân phận đệ tử ngoại đạo, mong mỏi thân phận không phải là sa‑môn, mong mỏi thân phận không phải là Thích tử rồi nói ra, tuyên bố rằng: “Hay là tôi nên lìa bỏ đức Phật?” Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược mà sự học tập chưa được lìa bỏ.
Hoặc là (vị tỳ khưu) bị bực bội, không thỏa thích, có ý định từ biệt hạnh sa‑môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn, chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ, ...(như trên)..., mong mỏi thân phận không phải là Thích tử rồi nói ra, tuyên bố rằng: “Hay là tôi nên lìa bỏ đức Pháp?” ...(như trên)... nói ra, tuyên bố rằng: “Hay là tôi nên lìa bỏ đức Tăng?” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Hay là tôi nên lìa bỏ sự học tập?” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Hay là tôi nên lìa bỏ Luật?” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Hay là tôi nên lìa bỏ giới bổn Pātimokkha?” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Hay là tôi nên lìa bỏ việc đọc tụng?” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Hay là tôi nên lìa bỏ thầy tế độ?” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Hay là tôi nên lìa bỏ thầy dạy học?” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Hay là tôi nên lìa bỏ đệ tử?” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Hay là tôi nên lìa bỏ học trò?” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Hay là tôi nên lìa bỏ vị có chung thầy tế độ?” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Hay là tôi nên lìa bỏ vị có chung thầy dạy học?” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Hay là tôi nên lìa bỏ Phạm hạnh?” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Hay là tôi nên trở thành gia chủ?” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Hay là tôi nên trở thành nam cư sĩ?” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Hay là tôi nên trở thành người phụ việc chùa?” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Hay là tôi nên trở thành sa di?” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Hay là tôi nên trở thành ngoại đạo?” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Hay là tôi nên trở thành đệ tử ngoại đạo?” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Hay là tôi nên trở thành không phải là sa‑môn?” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Hay là tôi nên trở thành không phải là Thích tử?” Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược mà sự học tập chưa được lìa bỏ.
Hoặc là (vị tỳ khưu) bị bực bội, không thỏa thích, có ý định từ biệt hạnh sa‑môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn, chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ, ...(như trên)..., mong mỏi thân phận không phải là Thích tử rồi nói ra, tuyên bố rằng: “Nếu như tôi có thể lìa bỏ đức Phật?” ...(như trên)... nói ra, tuyên bố rằng: “Nếu như tôi có thể không phải là Thích tử?” ...(như trên)... nói ra, tuyên bố rằng: “Giờ tôi nên lìa bỏ đức Phật?” ...(như trên)... nói ra, tuyên bố rằng: “Giờ tôi nên không phải là Thích tử?” ...(như trên)... nói ra, tuyên bố rằng: “Vậy tôi hãy nên lìa bỏ đức Phật?” ...(như trên)... nói ra, tuyên bố rằng: “Vậy tôi hãy nên không phải là Thích tử?” ...(như trên)... nói ra, tuyên bố rằng: “Ước gì tôi có thể lìa bỏ đức Phật?” ...(như trên)... nói ra, tuyên bố rằng: “Ước gì tôi có thể không phải là Thích tử?” Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược mà sự học tập chưa được lìa bỏ.
Hoặc là (vị tỳ khưu) bị bực bội, không thỏa thích, có ý định từ biệt hạnh sa‑môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn, chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ, ...(như trên)..., mong mỏi thân phận không phải là Thích tử rồi nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi nhớ mẹ.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi nhớ cha.”... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi nhớ anh (em) trai.”... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi nhớ chị (em) gái.”... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi nhớ con trai.”... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi nhớ con gái.”... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi nhớ vợ.”... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi nhớ quyến thuộc.”... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi nhớ bạn bè.”... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi nhớ làng quê.”... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi nhớ phố phường.”... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi nhớ ruộng.”... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi nhớ vườn.”... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi nhớ tiền vàng.”... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi nhớ vàng khối.”... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi nhớ nghề nghiệp.”... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi hồi tưởng lại sự cười, nói, đùa giỡn trước đây.” Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược mà sự học tập chưa được lìa bỏ.
Hoặc là (vị tỳ khưu) bị bực bội, không thỏa thích, có ý định từ biệt hạnh sa‑môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn, chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ, ...(như trên)..., mong mỏi thân phận không phải là Thích tử rồi nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi có mẹ. Người ấy có thể nuôi tôi.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi có cha. Người ấy có thể nuôi tôi.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi có anh (em) trai. Người ấy có thể nuôi tôi.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi có chị (em) gái. Người ấy có thể nuôi tôi.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi có con trai. Người ấy có thể nuôi tôi.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi có con gái. Người ấy có thể nuôi tôi.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi có vợ. Người ấy có thể nuôi tôi.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi có quyến thuộc. Các người ấy có thể nuôi tôi.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi có bạn bè. Các người ấy có thể nuôi tôi.” Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược mà sự học tập chưa được lìa bỏ.
Hoặc là (vị tỳ khưu) bị bực bội, không thỏa thích, có ý định từ biệt hạnh sa‑môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn, chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ, ...(như trên)..., mong mỏi thân phận không phải là Thích tử rồi nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi có mẹ. Người ấy sẽ nuôi tôi.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi có cha. Người ấy sẽ nuôi tôi.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi có anh (em) trai. Người ấy sẽ nuôi tôi.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi có chị (em) gái. Người ấy sẽ nuôi tôi.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi có con trai. Người ấy sẽ nuôi tôi.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi có con gái. Người ấy sẽ nuôi tôi.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi có vợ. Người ấy sẽ nuôi tôi.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi có quyến thuộc. Các người ấy sẽ nuôi tôi.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi có bạn bè. Các người ấy sẽ nuôi tôi.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi có làng quê. Tôi sẽ sống nhờ nó.”... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi có phố phường. Tôi sẽ sống nhờ nó.”... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi có ruộng. Tôi sẽ sống nhờ nó.”... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi có vườn. Tôi sẽ sống nhờ nó.”... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi có tiền vàng. Tôi sẽ sống nhờ nó.”... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi có vàng khối. Tôi sẽ sống nhờ nó.”... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi có nghề nghiệp. Tôi sẽ sống nhờ nó.” Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược mà sự học tập chưa được lìa bỏ.
Hoặc là (vị tỳ khưu) bị bực bội, không thỏa thích, có ý định từ biệt hạnh sa‑môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn, chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ, ...(như trên)..., mong mỏi thân phận không phải là Thích tử rồi nói ra, tuyên bố rằng: “Việc khó làm!” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Không phải việc dễ làm!” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Việc khó thực hành!” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Không phải việc dễ thực hành!” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi không nỗ lực!” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi không chịu đựng nổi!” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi không sung sướng!” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi không thỏa thích!” Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược mà sự học tập chưa được lìa bỏ.
31. Này các tỳ khưu, thế nào là có sự bày tỏ lòng yếu nhược và sự học tập được lìa bỏ?
Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu bị bực bội, không thỏa thích, có ý định từ biệt hạnh sa‑môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn, chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ, ...(như trên)... mong mỏi thân phận không phải là Thích tử rồi nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi lìa bỏ đức Phật.” Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược và sự học tập được lìa bỏ.
Hoặc là (vị tỳ khưu) bị bực bội, không thỏa thích, có ý định từ biệt hạnh sa‑môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn, chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ, ...(như trên)... mong mỏi thân phận không phải là Thích tử rồi nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi lìa bỏ đức Pháp.” ...(như trên)... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi lìa bỏ đức Tăng.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi lìa bỏ sự học tập.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi lìa bỏ Luật.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi lìa bỏ giới bổn Pātimokkha.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi lìa bỏ việc đọc tụng.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi lìa bỏ thầy tế độ.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi lìa bỏ thầy dạy học.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi lìa bỏ đệ tử.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi lìa bỏ học trò.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi lìa bỏ vị có chung thầy tế độ.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi lìa bỏ vị có chung thầy dạy học.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi lìa bỏ Phạm hạnh.” ...(như trên)... ... nói ra, tuyên bố rằng: “Hãy ghi nhận tôi là gia chủ.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Hãy ghi nhận tôi là cư sĩ.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Hãy ghi nhận tôi là người phụ việc chùa.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Hãy ghi nhận tôi là sa di.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Hãy ghi nhận tôi là ngoại đạo.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Hãy ghi nhận tôi là đệ tử ngoại đạo.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Hãy ghi nhận tôi không phải là sa‑môn.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Hãy ghi nhận tôi không phải là Thích tử.” Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược và sự học tập được lìa bỏ.
Hoặc là (vị tỳ khưu) bị bực bội, không thỏa thích, có ý định từ biệt hạnh sa‑môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn, chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ, ...(như trên)..., mong mỏi thân phận không phải là Thích tử rồi nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi đã chán đức Phật.” ...(như trên)... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi đã chán Phạm hạnh.” Này các tỳ khưu, như thế là ...(như trên)...
Hoặc là ...(như trên)... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi còn liên quan gì với đức Phật?” ...(như trên)... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi còn liên quan gì với Phạm hạnh?” Này các tỳ khưu, như thế là ...(như trên)...
Hoặc là ...(như trên)... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi không còn cần đến đức Phật.” ...(như trên)... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi không còn cần đến Phạm hạnh.” Này các tỳ khưu, như thế là ...(như trên)...
Hoặc là ...(như trên)... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi đã hoàn toàn lìa khỏi đức Phật.” ...(như trên)... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi đã hoàn toàn lìa khỏi Phạm hạnh.” Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược và sự học tập được lìa bỏ.
Hoặc là, còn có những điều khác ám chỉ đến đức Phật, hoặc ám chỉ đến đức Pháp, hoặc ám chỉ đến đức Tăng, hoặc ám chỉ đến sự học tập, hoặc ám chỉ đến Luật, hoặc ám chỉ đến giới bổn Pātimokkha, hoặc ám chỉ đến việc đọc tụng, hoặc ám chỉ đến thầy tế độ, hoặc ám chỉ đến thầy dạy học, hoặc ám chỉ đến đệ tử, hoặc ám chỉ đến học trò, hoặc ám chỉ đến vị có chung thầy tế độ, hoặc ám chỉ đến vị có chung thầy dạy học, hoặc ám chỉ đến Phạm hạnh, hoặc ám chỉ đến gia chủ, hoặc ám chỉ đến nam cư sĩ, hoặc ám chỉ đến người phụ việc chùa, hoặc ám chỉ đến sa di, hoặc ám chỉ đến ngoại đạo, hoặc ám chỉ đến đệ tử ngoại đạo, hoặc ám chỉ đến (trạng thái) không phải là sa‑môn, hoặc ám chỉ đến (trạng thái) không phải là Thích tử, và vị nói ra, tuyên bố với những hình thức ấy, với những biểu hiện ấy, với những dấu hiệu ấy. Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược và sự học tập được lìa bỏ.
32. Này các tỳ khưu, thế nào là sự học tập chưa được lìa bỏ? Này các tỳ khưu, ở đây sự học tập được lìa bỏ với những hình thức nào, với những biểu hiện nào, với những dấu hiệu nào và vị bị điên lìa bỏ sự học tập với những hình thức ấy, với những biểu hiện ấy, với những dấu hiệu ấy thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học trong sự chứng minh của vị bị điên thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị có tâm bị rối loạn lìa bỏ sự học tập thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học trong sự chứng minh của vị có tâm bị rối loạn thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị bị thọ khổ hành hạ lìa bỏ sự học tập thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học trong sự chứng minh của vị bị thọ khổ hành hạ thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học trong sự chứng minh của thiên nhân thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học trong sự chứng minh của loài thú thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học theo ngôn ngữ quý phái trong sự chứng minh của người bình dân và nếu người ấy không hiểu được thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học theo ngôn ngữ bình dân trong sự chứng minh của người quý phái và nếu người ấy không hiểu được thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học theo ngôn ngữ quý phái trong sự chứng minh của người quý phái nhưng nếu người ấy không hiểu được thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học theo ngôn ngữ bình dân trong sự chứng minh của người bình dân nhưng nếu người ấy không hiểu được thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học theo lối đùa cợt thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học do bị lỡ lời thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị ấy nói ra nhưng có ý định không cho nghe được thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị ấy có ý định cho nghe được nhưng nói ra không rõ ràng thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị ấy nói với người không hiểu biết thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị ấy không nói ra rõ ràng với người hiểu biết thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Hoặc vị ấy không nói ra rõ ràng đầy đủ (cả câu) thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Này các tỳ khưu, như thế là sự học tập chưa được lìa bỏ.
33. Việc đôi lứa nghĩa là việc nào là việc kết hợp của hai người, theo từng cặp, ở nơi kín đáo, là việc làm không tốt đẹp, là việc làm của các dân làng, là việc làm của những người thấp kém, là xấu xa, kết cuộc phải dùng nước tẩy rửa; việc ấy gọi là việc đôi lứa.
34. Thực hiện nghĩa là vị nào đưa vật biểu tượng vào vật biểu tượng, đưa dương vật vào âm vật cho dầu chỉ (đưa vào) khoảng cách bằng hạt mè, vị ấy được gọi là thực hiện.
35. Ngay cả với loài thú cái: Sau khi thực hiện việc đôi lứa với giống cái của loài thú thì không còn là sa‑môn, không phải là Thích tử nữa chứ không phải chỉ với người nữ; vì thế được gọi là “ngay cả với loài thú cái.”
36. Là vị phạm tội pārājika: cũng giống như người đàn ông bị chặt đứt đầu không thể sống bám víu vào thân thể ấy; tương tợ như thế, vị tỳ khưu sau khi thực hiện việc đôi lứa thì không còn là sa‑môn, không phải là Thích tử; vì thế được gọi “là vị phạm tội pārājika.”
37. Không được cộng trú: cộng trú nghĩa là có chung hành sự, có chung việc đọc tụng (giới bổn Pātimokkha), có sự học tập giống nhau, điều ấy gọi là cộng trú. Vị ấy không có được điều ấy, vì thế được gọi là “không được cộng trú.”
38. Nữ tánh (itthī) có ba loại: người nữ, phi nhân nữ, thú cái.
Lưỡng căn có ba loại: người lưỡng căn, phi nhân lưỡng căn, thú lưỡng căn.
Vô căn có ba loại: người vô căn, phi nhân vô căn, thú vô căn.
Nam tánh có ba loại: người nam, phi nhân nam, thú đực.
Vị thực hiện việc đôi lứa với người nữ theo ba đường (magge): ở đường đại tiện, ở đường tiểu tiện, ở miệng thì phạm tội pārājika. Vị thực hiện việc đôi lứa với phi nhân nữ ...(như trên)... với thú cái theo ba đường: ở đường đại tiện, ở đường tiểu tiện, ở miệng thì phạm tội pārājika.
Vị thực hiện việc đôi lứa với người lưỡng căn ...(như trên)... với phi nhân lưỡng căn ...(như trên)... với thú lưỡng căn theo ba đường: ở đường đại tiện, ở đường tiểu tiện, ở miệng thì phạm tội pārājika.
Vị thực hiện việc đôi lứa với người vô căn theo hai đường: ở đường đại tiện, ở miệng thì phạm tội pārājika. Vị thực hiện việc đôi lứa với phi nhân vô căn ...(như trên)... với thú vô căn ...(như trên)... với người nam ...(như trên)... với phi nhân nam ...(như trên)... với thú đực theo hai đường: ở đường đại tiện, ở miệng thì phạm tội pārājika.
39. Vị tỳ khưu nghĩ đến việc giao hợp rồi đưa dương vật vào đường đại tiện của người nữ thì phạm tội pārājika. Vị tỳ khưu nghĩ đến việc giao hợp rồi đưa dương vật vào đường tiểu tiện của người nữ thì phạm tội pārājika. Vị tỳ khưu nghĩ đến việc giao hợp rồi đưa dương vật vào miệng của người nữ thì phạm tội pārājika. Vị tỳ khưu nghĩ đến việc giao hợp rồi đưa dương vật vào đường đại tiện, vào đường tiểu tiện, vào miệng của phi nhân nữ ...(như trên)... của thú cái ...(như trên)... của người lưỡng căn ...(như trên)... của phi nhân lưỡng căn ...(như trên)... của thú lưỡng căn thì phạm tội pārājika.
Vị tỳ khưu nghĩ đến việc giao hợp rồi đưa dương vật vào đường đại tiện ...(như trên)... vào miệng của người vô căn thì phạm tội pārājika. Vị tỳ khưu nghĩ đến việc giao hợp rồi đưa dương vật vào đường đại tiện, vào miệng của phi nhân vô căn ...(như trên)... của thú vô căn, của người nam, của phi nhân nam, của thú đực ...(như trên)... thì phạm tội pārājika.
40. Các tỳ khưu đối nghịch đem người nữ lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (của vị ấy) với đường đại tiện (của người nữ); nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika. Các tỳ khưu đối nghịch đem người nữ lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (của vị ấy) với đường đại tiện (của người nữ); nếu vị ấy không ưng thuận việc đưa vào, (nhưng) ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika. Các tỳ khưu đối nghịch đem người nữ lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (của vị ấy) với đường đại tiện (của người nữ); nếu vị ấy không ưng thuận việc đưa vào, không ưng thuận khi được đẩy vào, (nhưng) ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika. Các tỳ khưu đối nghịch đem người nữ lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (của vị ấy) với đường đại tiện (của người nữ); nếu vị ấy không ưng thuận việc đưa vào, không ưng thuận khi được đẩy vào, không ưng thuận khi dừng lại, (nhưng) ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika. Các tỳ khưu đối nghịch đem người nữ lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (của vị ấy) với đường đại tiện (của người nữ); nếu vị ấy không ưng thuận việc đưa vào, không ưng thuận khi được đẩy vào, không ưng thuận khi dừng lại, không ưng thuận việc rút ra thì vô tội.
Các tỳ khưu đối nghịch đem người nữ lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (của vị ấy) với đường tiểu tiện (của người nữ) ...(như trên)... với miệng (của người nữ); nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika. ...(như trên)... không ưng thuận thì vô tội. Các tỳ khưu đối nghịch đem người nữ đang tỉnh táo, đang ngủ, đang say sưa, bị điên, đang đờ đẫn, đã chết chưa bị (thú) ăn, đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần ...(như trên)... thì phạm tội pārājika. ...(như trên)... đã chết đã bị (thú) ăn nhiều phần lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (của vị ấy) với đường đại tiện, với đường tiểu tiện, với miệng (của người nữ); nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội trọng tội. ...(như trên)... không ưng thuận thì vô tội.
Các tỳ khưu đối nghịch đem phi nhân nữ ...(như trên)... thú cái, người lưỡng căn, phi nhân lưỡng căn, thú lưỡng căn lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (của vị ấy) với đường đại tiện, với đường tiểu tiện, với miệng (của đối tượng); nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika. ...(như trên)... không ưng thuận thì vô tội. Các tỳ khưu đối nghịch đem thú lưỡng căn đang tỉnh táo, đang ngủ, đang say sưa, bị điên, đang đờ đẫn, đã chết chưa bị (thú) ăn, đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần ...(như trên)... thì phạm tội pārājika. ...(như trên)... đã chết đã bị (thú) ăn nhiều phần lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (của vị ấy) với đường đại tiện, với đường tiểu tiện, với miệng (của đối tượng); nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội trọng tội. ...(như trên)... không ưng thuận thì vô tội.
Các tỳ khưu đối nghịch đem người vô căn ...(như trên)... phi nhân vô căn, thú vô căn lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (của vị ấy) với đường đại tiện (của đối tượng), ...(như trên)... với miệng (của đối tượng); nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm pārājika. ...(như trên)... không ưng thuận thì vô tội. Các tỳ khưu đối nghịch đem thú vô căn đang tỉnh táo, đang ngủ, đang say sưa, bị điên, đang đờ đẫn, đã chết chưa bị (thú) ăn, đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần ...(như trên)... thì phạm tội pārājika. ...(như trên)... đã chết đã bị (thú) ăn nhiều phần lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (của vị ấy) với đường đại tiện (của đối tượng), ...(như trên)... với miệng (của đối tượng); nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội trọng tội. ...(như trên)... không ưng thuận thì vô tội.
Các tỳ khưu đối nghịch đem người nam ...(như trên)... phi nhân nam, ...(như trên)... thú đực lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (của vị ấy) với đường đại tiện (của đối tượng), ...(như trên)... với miệng (của đối tượng); nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm pārājika. ...(như trên)... không ưng thuận thì vô tội. Các tỳ khưu đối nghịch đem thú nam đang tỉnh táo, đang ngủ, đang say sưa, bị điên, đang đờ đẫn, đã chết chưa bị (thú) ăn, đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần ...(như trên)... thì phạm tội pārājika. ...(như trên)... đã chết đã bị (thú) ăn nhiều phần lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (của vị ấy) với đường đại tiện (của đối tượng), ...(như trên)... với miệng (của đối tượng); nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội trọng tội. ...(như trên)... không ưng thuận thì vô tội.
41. Các tỳ khưu đối nghịch đem người nữ lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (của vị ấy) với đường đại tiện, với đường tiểu tiện, với miệng (của người nữ) – của người nữ được che phủ và của vị ấy không được che phủ – của người nữ không được che phủ và của vị ấy được che phủ – của người nữ được che phủ và của vị ấy được che phủ – của người nữ không được che phủ và của vị ấy không được che phủ; nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika. ...(như trên)... không ưng thuận thì vô tội. Các tỳ khưu đối nghịch đem người nữ đang tỉnh táo, đang ngủ, đang say sưa, bị điên, đang đờ đẫn, đã chết chưa bị (thú) ăn, đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần ...(như trên)... thì phạm tội pārājika. ...(như trên)... đã chết đã bị (thú) ăn nhiều phần lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (của vị ấy) với đường đại tiện, với đường tiểu tiện, với miệng (của người nữ) – của người nữ được che phủ và của vị ấy không được che phủ – của người nữ không được che phủ và của vị ấy được che phủ – của người nữ được che phủ và của vị ấy được che phủ – của người nữ không được che phủ và của vị ấy không được che phủ; nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội trọng tội. ...(như trên)... không ưng thuận thì vô tội.
Các tỳ khưu đối nghịch đem phi nhân nữ ...(như trên)... thú cái, người lưỡng căn, phi nhân lưỡng căn, thú lưỡng căn lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (của vị ấy) với đường đại tiện, với đường tiểu tiện, với miệng (của đối tượng) – của đối tượng được che phủ và của vị ấy không được che phủ – của đối tượng không được che phủ và của vị ấy được che phủ – của đối tượng được che phủ và của vị ấy được che phủ – của đối tượng không được che phủ và của vị ấy không được che phủ; nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika. ...(như trên)... không ưng thuận thì vô tội. Các tỳ khưu đối nghịch đem thú lưỡng căn đang tỉnh táo, đang ngủ, đang say sưa, bị điên, đang đờ đẫn, đã chết chưa bị (thú) ăn, đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần ...(như trên)... thì phạm tội pārājika. ...(như trên)... đã chết đã bị (thú) ăn nhiều phần lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (của vị ấy) với đường đại tiện (của đối tượng), ...(như trên)... với miệng (của đối tượng) – của đối tượng được che phủ và của vị ấy không được che phủ – của đối tượng không được che phủ và của vị ấy được che phủ – của đối tượng được che phủ và của vị ấy được che phủ – của đối tượng không được che phủ và của vị ấy không được che phủ; nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội trọng tội. ...(như trên)... không ưng thuận thì vô tội.
Các tỳ khưu đối nghịch đem người vô căn, phi nhân vô căn, thú vô căn, người nam, phi nhân nam, thú đực lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (của vị ấy) với đường đại tiện (của đối tượng), ...(như trên)... với miệng (của đối tượng) – của đối tượng được che phủ và của vị ấy không được che phủ – của đối tượng không được che phủ và của vị ấy được che phủ – của đối tượng được che phủ và của vị ấy được che phủ – của đối tượng không được che phủ và của vị ấy không được che phủ; nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm pārājika. ...(như trên)... không ưng thuận thì vô tội. Các tỳ khưu đối nghịch đem thú đực đang tỉnh táo, đang ngủ, đang say sưa, bị điên, đang đờ đẫn, đã chết chưa bị (thú) ăn, đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần ...(như trên)... thì phạm tội pārājika. ...(như trên)... đã chết đã bị (thú) ăn nhiều phần lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (của vị ấy) với đường đại tiện (của đối tượng), ...(như trên)... với miệng (của đối tượng) – của đối tượng được che phủ và của vị ấy không được che phủ – của đối tượng không được che phủ và của vị ấy được che phủ – của đối tượng được che phủ và của vị ấy được che phủ – của đối tượng không được che phủ và của vị ấy không được che phủ; nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội trọng tội. ...(như trên)... không ưng thuận thì vô tội.
42. Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần người nữ rồi kết hợp đường đại tiện, đường tiểu tiện, miệng (của người nữ) với dương vật (của vị ấy); nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika. ...(như trên)... không ưng thuận thì vô tội. Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần người nữ đang tỉnh táo, đang ngủ, đang say sưa, bị điên, đang đờ đẫn, đã chết chưa bị (thú) ăn, đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần ...(như trên)... thì phạm tội pārājika. ...(như trên)... đã chết đã bị (thú) ăn nhiều phần rồi kết hợp đường đại tiện, đường tiểu tiện, miệng (của người nữ) với dương vật (của vị ấy); nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội trọng tội. ...(như trên)... không ưng thuận thì vô tội.
Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần phi nhân nữ ...(như trên)... thú cái, người lưỡng căn, phi nhân lưỡng căn, thú lưỡng căn ...(như trên)... người vô căn, phi nhân vô căn, thú vô căn, người nam, phi nhân nam, thú đực rồi kết hợp đường đại tiện, miệng (của đối tượng) với dương vật (của vị ấy); nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm pārājika. ...(như trên)... không ưng thuận thì vô tội. Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần thú đực đang tỉnh táo, đang ngủ, đang say sưa, bị điên, đang đờ đẫn, đã chết chưa bị (thú) ăn, đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần ...(như trên)... thì phạm tội pārājika. ...(như trên)... đã chết đã bị (thú) ăn nhiều phần rồi kết hợp đường đại tiện, miệng (của đối tượng) với dương vật (của vị ấy); nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội trọng tội. ...(như trên)... không ưng thuận thì vô tội.
43. Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần người nữ rồi kết hợp đường đại tiện, đường tiểu tiện, miệng (của người nữ) với dương vật (của vị ấy) – của vị ấy được che phủ và của người nữ không được che phủ – của vị ấy không được che phủ và của người nữ được che phủ – của vị ấy được che phủ và của người nữ được che phủ – của vị ấy không được che phủ và của người nữ không được che phủ; nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika. ...(như trên)... không ưng thuận thì vô tội. Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần người nữ đang tỉnh táo, đang ngủ, đang say sưa, bị điên, đang đờ đẫn, đã chết chưa bị (thú) ăn, đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần ...(như trên)... thì phạm tội pārājika. ...(như trên)... đã chết đã bị (thú) ăn nhiều phần rồi kết hợp đường đại tiện, đường tiểu tiện, miệng (của người nữ) với dương vật (của vị ấy) – của vị ấy được che phủ và của người nữ không được che phủ – của vị ấy không được che phủ và của người nữ được che phủ – của vị ấy được che phủ và của người nữ được che phủ – của vị ấy không được che phủ và của người nữ không được che phủ; nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội trọng tội. ...(như trên)... không ưng thuận thì vô tội.
Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần phi nhân nữ ...(như trên)... thú cái, người lưỡng căn, phi nhân lưỡng căn, thú lưỡng căn, ...(như trên)... người vô căn, phi nhân vô căn, thú vô căn, người nam, phi nhân nam, thú đực rồi kết hợp đường đại tiện, miệng (của đối tượng) với dương vật (của vị ấy) – của vị ấy được che phủ và của đối tượng không được che phủ – của vị ấy không được che phủ và của đối tượng được che phủ – của vị ấy được che phủ và của đối tượng được che phủ – của vị ấy không được che phủ và của đối tượng không được che phủ; nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika. ...(như trên)... không ưng thuận thì vô tội. Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần thú đực đang tỉnh táo, đang ngủ, đang say sưa, bị điên, đang đờ đẫn, đã chết chưa bị (thú) ăn, đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần ...(như trên)... thì phạm tội pārājika. ...(như trên)... đã chết đã bị (thú) ăn nhiều phần rồi kết hợp đường đại tiện, miệng (của đối tượng) với dương vật (của vị ấy) – của vị ấy được che phủ và của đối tượng không được che phủ – của vị ấy không được che phủ và của đối tượng được che phủ – của vị ấy được che phủ và của đối tượng được che phủ – của vị ấy không được che phủ và của đối tượng không được che phủ; nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội trọng tội. ...(như trên)... không ưng thuận thì vô tội.
44. Các tỳ khưu đối nghịch được phân tích như thế nào thì những vị vua đối nghịch, những kẻ trộm cướp đối nghịch, những kẻ vô lại đối nghịch, những kẻ thảo khấu đối nghịch nên được phân tích như thế.
45. Vị đưa (dương vật) vào khiếu (maggaṃ) theo đường khiếu thì phạm tội pārājika. Vị đưa (dương vật) vào nơi không phải là khiếu theo đường khiếu thì phạm tội pārājika. Vị đưa (dương vật) vào khiếu (maggaṃ) không theo đường khiếu thì phạm tội pārājika. Vị đưa (dương vật) vào nơi không phải là khiếu không theo đường khiếu thì phạm tội trọng tội.
46. Vị tỳ khưu vi phạm giới với vị tỳ khưu đang ngủ, vị kia thức giấc lại ưng thuận; cả hai nên bị trục xuất. Vị kia thức giấc không ưng thuận, kẻ làm bậy nên bị trục xuất. Vị tỳ khưu vi phạm giới với vị sa di đang ngủ, vị sa di thức giấc lại ưng thuận; cả hai nên bị trục xuất. Vị sa di thức giấc không ưng thuận, kẻ làm bậy nên bị trục xuất. Vị sa di vi phạm giới với vị tỳ khưu đang ngủ, vị tỳ khưu thức giấc lại ưng thuận; cả hai nên bị trục xuất. Vị tỳ khưu thức giấc không ưng thuận, kẻ làm bậy nên bị trục xuất. Vị sa di vi phạm giới với vị sa di đang ngủ, vị kia thức giấc lại ưng thuận; cả hai nên bị trục xuất. Vị kia thức giấc không ưng thuận, kẻ làm bậy nên bị trục xuất.
47. Vị không biết, vị không ưng thuận, vị bị điên, vị có tâm bị rối loạn, vị bị thọ khổ hành hạ, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt tụng phẩm “Được che đậy.”