Phân Tích Giới Bổn › Phân Tích Giới Tỳ-khưu II › VIII. Chương Ưng Đối Trị › Phần Có Sinh Vật · Tỳ khưu Indacanda

PTG 124 - ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI

673. Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, sa di tên Kaṇḍaka sanh khởi tà kiến ác như vầy: “Theo như ta hiểu về Pháp đã được đức Thế Tôn thuyết giảng thì những pháp chướng ngại được đức Thế Tôn giảng giải không có khả năng đem đến sự chướng ngại cho người thực hành.”

Nhiều vị tỳ khưu đã nghe được rằng:

- Nghe nói sa di tên Kaṇḍaka đã sanh khởi tà kiến ác như vầy: “Theo như ta hiểu về Pháp đã được đức Thế Tôn thuyết giảng thì những pháp chướng ngại được đức Thế Tôn giảng giải không có khả năng đem đến sự chướng ngại cho người thực hành.”

Sau đó, các tỳ khưu ấy đã đi đến gặp sa di tên Kaṇḍaka, sau khi đến đã nói với sa di tên Kaṇḍaka điều này:

- Này sa di Kaṇḍaka, nghe nói ngươi đã sanh khởi tà kiến ác như vầy: “Theo như ta hiểu về Pháp đã được đức Thế Tôn thuyết giảng thì những pháp chướng ngại được đức Thế Tôn giảng giải không có khả năng đem đến sự chướng ngại cho người thực hành,” có đúng không vậy?

- Thưa các ngài, đúng như vậy. Theo như tôi hiểu về Pháp đã được đức Thế Tôn thuyết giảng thì những pháp chướng ngại được đức Thế Tôn giảng giải không có khả năng đem đến sự chướng ngại cho người thực hành.

- Này sa di Kaṇḍaka, chớ có nói như thế. Chớ có vu khống đức Thế Tôn bởi vì việc vu khống đức Thế Tôn là không tốt. Bởi vì đức Thế Tôn không có nói như thế. Này sa di Kaṇḍaka, đức Thế Tôn đã giảng giải bằng nhiều phương thức rằng các pháp chướng ngại có khả năng đem đến sự chướng ngại cho người thực hành. Đức Thế Tôn đã giảng giải rằng dục tình chỉ có chút ít khoái lạc, nhiều khổ đau, nhiều ưu phiền, ở đó điều bất lợi còn nhiều hơn. Dục tình đã được đức Thế Tôn giảng giải như là bộ xương, nhiều khổ đau, nhiều ưu phiền, ở đó điều bất lợi còn nhiều hơn. Dục tình đã được đức Thế Tôn giảng giải như là miếng thịt, ...(như trên)... Dục tình đã được đức Thế Tôn giảng giải như là cây đuốc cỏ, ...(như trên)... Dục tình đã được đức Thế Tôn giảng giải như là hố than cháy rực, ...(như trên)... Dục tình đã được đức Thế Tôn giảng giải như là giấc mơ, ...(như trên)... Dục tình đã được đức Thế Tôn giảng giải như là vật vay mượn, ...(như trên)... Dục tình đã được đức Thế Tôn giảng giải như là trái trên cây, ...(như trên)... Dục tình đã được đức Thế Tôn giảng giải như là lò sát sanh, ...(như trên)... Dục tình đã được đức Thế Tôn giảng giải như là mũi lao nhọn, ...(như trên)... Dục tình đã được đức Thế Tôn giảng giải như là đầu rắn độc, nhiều khổ đau, nhiều ưu phiền, ở đó điều bất lợi còn nhiều hơn.

Khi được các vị tỳ khưu ấy nói như thế, sa di Kaṇḍaka do có sự ngoan cố, chấp giữ, và bảo thủ tà kiến ác ấy nên vẫn phát biểu giống như thế:

- Thưa các ngài, đúng như vậy. Theo như tôi hiểu về Pháp đã được đức Thế Tôn thuyết giảng thì những pháp chướng ngại được đức Thế Tôn giảng giải không có khả năng đem đến sự chướng ngại cho người thực hành.

Như thế, các vị tỳ khưu ấy đã không thể giúp cho sa di Kaṇḍaka thoát khỏi tà kiến ác ấy. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi sa di Kaṇḍaka rằng:

- Này Kaṇḍaka, nghe nói tà kiến ác đã sanh khởi ở ngươi như vầy: “Theo như ta hiểu về Pháp đã được đức Thế Tôn thuyết giảng thì những pháp chướng ngại được đức Thế Tôn giảng giải không có khả năng đem đến sự chướng ngại cho người thực hành,” có đúng không vậy?

- Bạch ngài, đúng như vậy. Theo như con hiểu về Pháp đã được đức Thế Tôn thuyết giảng thì những pháp chướng ngại được đức Thế Tôn giảng giải không có khả năng đem đến sự chướng ngại cho người thực hành.

- Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại hiểu Pháp được ta thuyết giảng là như thế? Này kẻ rồ dại, không phải ta đã giảng giải bằng nhiều phương thức rằng các pháp chướng ngại có khả năng đem đến sự chướng ngại cho người thực hành? Dục tình đã được ta giảng giải là chỉ có chút ít khoái lạc, nhiều khổ đau, nhiều ưu phiền, ở đó điều bất lợi còn nhiều hơn. Dục tình đã được ta giảng giải như là bộ xương, nhiều khổ đau, nhiều ưu phiền, ở đó điều bất lợi còn nhiều hơn. Dục tình đã được ta giảng giải như là miếng thịt, ...(như trên)... Dục tình đã được ta giảng giải như là cây đuốc cỏ, ...(như trên)... Dục tình đã được ta giảng giải như là hố than cháy rực, ...(như trên)... Dục tình đã được ta giảng giải như là giấc mơ, ...(như trên)... Dục tình đã được ta giảng giải như là vật vay mượn, ...(như trên)... Dục tình đã được ta giảng giải như là trái trên cây, ...(như trên)... Dục tình đã được ta giảng giải như là lò sát sanh, ...(như trên)... Dục tình đã được ta giảng giải như là mũi lao nhọn, ...(như trên)... Dục tình đã được ta giảng giải như là đầu rắn độc, nhiều khổ đau, nhiều ưu phiền, ở đó điều bất lợi còn nhiều hơn. Này kẻ rồ dại, hơn nữa ngươi không những vu khống ta do sự hiểu biết sai lạc của bản thân mà ngươi còn làm tổn hại chính bản thân và tích lũy vô số điều bất thiện nữa. Này kẻ rồ dại, bởi vì điều ấy sẽ đem lại cho ngươi sự thất bại và khổ đau lâu dài. Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. Này kẻ rồ dại, hơn nữa chính sự việc này đem lại sự không có niềm tin ở những kẻ chưa có đức tin và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đã có đức tin.

Sau khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:

- Này các tỳ khưu, như thế thì hội chúng hãy trục xuất sa di Kaṇḍaka. Và này các tỳ khưu, nên trục xuất như vầy: “Này sa di Kaṇḍaka, kể từ hôm nay không được tuyên bố đức Thế Tôn ấy là bậc Đạo Sư của ngươi nữa. Ngay cả việc các sa di khác được hưởng là việc nằm chung chỗ ngụ với các tỳ khưu hai ba đêm, việc ấy không có cho ngươi nữa. Hãy đi chỗ khác, hãy biến mất đi.”

Sau đó, hội chúng đã trục xuất sa di Kaṇḍaka.

674. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư dầu biết vẫn dụ dỗ, vẫn bảo phục vụ, vẫn hưởng thụ chung, vẫn nằm chung chỗ ngụ với sa di Kaṇḍaka là kẻ đã bị trục xuất như thế.
Các tỳ khưu ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư dầu biết vẫn dụ dỗ, vẫn bảo phục vụ, vẫn hưởng thụ chung, vẫn nằm chung chỗ ngụ với sa di Kaṇḍaka là kẻ đã bị trục xuất như thế?

...(như trên)...

- Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi dầu biết vẫn dụ dỗ, vẫn bảo phục vụ, vẫn hưởng thụ chung, vẫn nằm chung chỗ ngụ với sa di Kaṇḍaka là kẻ đã bị trục xuất như thế, có đúng không vậy?

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

- Này những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi dầu biết vẫn dụ dỗ, vẫn bảo phục vụ, vẫn hưởng thụ chung, vẫn nằm chung chỗ ngụ với sa di Kaṇḍaka là kẻ đã bị trục xuất như thế? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. ...(như trên)... Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Nếu có vị sa di nói như vầy: ‘Theo như ta hiểu về Pháp đã được đức Thế Tôn thuyết giảng thì những pháp chướng ngại được đức Thế Tôn giảng giải không có khả năng đem đến sự chướng ngại cho người thực hành.’ Vị sa di ấy nên được nói bởi các tỳ khưu như sau: ‘Này ông sa di, ngươi chớ có nói như thế. Chớ có vu khống đức Thế Tôn bởi vì việc vu khống đức Thế Tôn là không tốt. Bởi vì đức Thế Tôn không có nói như thế. Này ông sa di, đức Thế Tôn đã giảng giải bằng nhiều phương thức rằng các pháp chướng ngại có khả năng đem đến sự chướng ngại cho người thực hành.’ Và khi được các tỳ khưu nói như vậy mà vị sa di ấy vẫn chấp giữ y như thế, vị sa di ấy nên được nói bởi các tỳ khưu như sau: ‘Này ông sa di, kể từ hôm nay không được tuyên bố đức Thế Tôn ấy là bậc Đạo sư của ngươi nữa. Ngay cả việc các sa di khác được hưởng là việc nằm chung chỗ ngụ với các tỳ khưu hai ba đêm, việc ấy không có cho ngươi nữa. Hãy đi chỗ khác, hãy biến mất đi.’ Vị tỳ khưu nào dầu biết vẫn dụ dỗ, hoặc vẫn bảo phục vụ, hoặc vẫn hưởng thụ chung, hoặc vẫn nằm chung chỗ ngụ với vị sa di là kẻ đã bị trục xuất như thế thì phạm tội ưng đối trị.”

675. Vị sa di nghĩa là vị sāmaṇera được nói đến.

Nói như vầy: “Theo như ta hiểu về Pháp đã được đức Thế Tôn thuyết giảng thì những pháp chướng ngại được đức Thế Tôn giảng giải không có khả năng đem đến sự chướng ngại cho người thực hành.”

676. Vị sa di ấy: là vị sa di nói như thế.

(Bởi) các tỳ khưu: (bởi) các tỳ khưu khác. Các vị nào thấy, các vị nào nghe, các vị ấy nên nói rằng: “Này ông sa di, ngươi chớ có nói như thế. Chớ có vu khống đức Thế Tôn bởi vì việc vu khống đức Thế Tôn là không tốt. Bởi vì đức Thế Tôn không có nói như thế. Này ông sa di, đức Thế Tôn đã giảng giải bằng nhiều phương thức rằng các pháp chướng ngại có khả năng đem đến sự chướng ngại cho người thực hành.” Nên được nói đến lần thứ nhì. Nên được nói đến lần thứ ba. Nếu (vị sa di ấy) dứt bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì vị sa di ấy nên được nói bởi các tỳ khưu như sau: “Này ông sa di, kể từ hôm nay không được tuyên bố đức Thế Tôn ấy là bậc Đạo sư của ngươi nữa, và việc các sa di khác được hưởng là việc nằm chung chỗ ngụ với các tỳ khưu hai ba đêm, ngay cả việc ấy không có cho ngươi nữa. Hãy đi chỗ khác, hãy biến mất đi.”

677. Vị nào:
là bất cứ vị nào ...(như trên)...

Tỳ khưu: ...(như trên)...
Vị này là “vị tỳ khưu” được đề cập trong ý nghĩa này.

Biết nghĩa là tự mình biết, hoặc những người khác thông báo cho vị ấy, hoặc là vị kia thông báo.

Đã bị trục xuất như thế: đã bị trục xuất như vậy.

Vị sa di nghĩa là vị sāmaṇera được nói đến.

(Hoặc vẫn) dụ dỗ: Vị dụ dỗ (nói rằng): “Ta sẽ cho ngươi bình bát hoặc y hoặc sự đọc tụng hoặc sự thẩm vấn” thì phạm tội ưng đối trị.

(Hoặc vẫn) bảo phục vụ: Vị chấp nhận bột tắm hoặc đất sét hoặc gỗ chà răng hoặc nước rửa mặt của vị (sa di) ấy thì phạm tội ưng đối trị.

(Hoặc vẫn) hưởng thụ chung: sự hưởng thụ chung nghĩa là có hai sự hưởng thụ chung: Sự hưởng thụ chung về vật chất và sự hưởng thụ chung về Pháp. Sự hưởng thụ chung về vật chất nghĩa là vị cho hoặc thọ nhận vật chất thì phạm tội ưng đối trị. Sự hưởng thụ chung về Pháp nghĩa là vị đọc tụng hoặc bảo đọc tụng. Vị đọc tụng hoặc bảo đọc tụng theo câu thì phạm tội ưng đối trị theo mỗi một câu. Vị đọc tụng hoặc bảo đọc tụng theo từ thì phạm tội ưng đối trị theo mỗi một từ.

Hoặc (vẫn) nằm chung chỗ ngụ: ở chỗ chung mái che, khi vị sa di bị trục xuất đang nằm vị tỳ khưu nằm xuống thì phạm tội ưng đối trị. Khi vị tỳ khưu đang nằm, vị sa di bị trục xuất nằm xuống thì phạm tội ưng đối trị. Hoặc cả hai nằm xuống thì phạm tội ưng đối trị. Sau khi đứng dậy, (cả hai) lại nằm xuống thì phạm tội ưng đối trị.

678. Vị bị trục xuất, nhận biết là bị trục xuất, vị dụ dỗ hoặc bảo phục vụ hoặc hưởng thụ chung hoặc nằm chung chỗ ngụ thì phạm tội ưng đối trị.

Vị bị trục xuất, có sự hoài nghi, vị dụ dỗ hoặc bảo phục vụ hoặc hưởng thụ chung hoặc nằm chung chỗ ngụ thì phạm tội tác ác.

Vị bị trục xuất, (lầm) tưởng là không bị trục xuất, vị dụ dỗ hoặc bảo phục vụ hoặc hưởng thụ chung hoặc nằm chung chỗ ngụ thì vô tội.

Vị không bị trục xuất, (lầm) tưởng là bị trục xuất, phạm tội tác ác.

Vị không bị trục xuất, có sự hoài nghi, phạm tội tác ác.

Vị không bị trục xuất, nhận biết là không bị trục xuất thì vô tội.

679. Vị biết rằng: “Vị (sa di) không bị trục xuất,” vị biết rằng: “Vị (sa di) đã dứt bỏ tà kiến ấy,” vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.

Dứt điều học thứ mười.

Phần Có Sinh Vật là phần thứ bảy.

Tóm lược phần này:

Cố ý đoạt mạng sống,
có sinh vật, khơi lại,
che giấu tội xấu xa,
chưa đủ hai mươi tuổi,
đám người, và hẹn trước,
Ariṭṭha, án treo,
sa di Kaṇḍaka,
đây là mười điều học.