Phân Tích Giới Bổn › Phân Tích Giới Tỳ-khưu II › VIII. Chương Ưng Đối Trị › Phần Nói Dối · Tỳ khưu Indacanda

PTG 064 - ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI

349. Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Āḷavī, nơi tháp thờ Aggāḷava. Vào lúc bấy giờ, trong khi thực hiện công trình mới các tỳ khưu ở thành Āḷavī tự đào và bảo đào đất. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Tại sao các sa‑môn Thích tử lại tự đào và bảo đào đất, các sa‑môn Thích tử giết hại mạng sống chỉ có một giác quan?

Các tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai.
Các tỳ khưu ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao các tỳ khưu ở thành Āḷavī lại tự đào và bảo đào đất?

Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ...(như trên)...

- Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi tự đào và bảo đào đất, có đúng không vậy?

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

- Này những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại tự đào và bảo đào đất vậy? Này những kẻ rồ dại, bởi vì dân chúng nghĩ rằng có mạng sống ở trong đất. Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. ...(như trên)... Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào tự đào hoặc bảo đào đất thì phạm tội ưng đối trị.”

350. Vị nào:
là bất cứ vị nào ...(như trên)...

Tỳ khưu: ...(như trên)...
Vị này là “vị tỳ khưu” được đề cập trong ý nghĩa này.

Đất nghĩa là có hai loại đất: đất màu mỡ và đất không màu mỡ.

Đất màu mỡ nghĩa là thuần đất, thuần sét, có ít đá, có ít sỏi, có ít mảnh sành, có ít sạn, có ít cát, phần lớn là đất, phần lớn là sét, đất chưa được đốt cháy là đất màu mỡ được nói đến. Đống đất hoặc đống sét được thấm nước mưa hơn bốn tháng, đây cũng được gọi là đất màu mỡ.

Đất không màu mỡ nghĩa là thuần đá, thuần sỏi, thuần mảnh sành, thuần sạn, thuần cát, có ít đất, có ít đất sét, phần lớn là đá, phần lớn là sỏi, phần lớn là mảnh sành, phần lớn là sạn, phần lớn là cát, đã được đốt cháy là đất không màu mỡ được đề cập đến. Đống đất hoặc đống sét được thấm nước mưa chưa tới bốn tháng, đây cũng được gọi là đất không màu mỡ.

351. Đào: là tự mình đào thì phạm tội ưng đối trị.

Bảo đào: là bảo người khác đào thì phạm tội ưng đối trị. Được ra lệnh một lần, mặc dầu (vị kia) đào nhiều lần (vị ra lệnh chỉ) phạm (một) tội ưng đối trị.

352. Đất, nhận biết là đất, vị tự đào, hoặc bảo đào, hoặc làm vỡ ra, hoặc bảo làm vỡ ra, hoặc đốt cháy, hoặc bảo đốt cháy thì phạm tội ưng đối trị.

Đất, có sự hoài nghi, vị tự đào, hoặc bảo đào, hoặc làm vỡ ra, hoặc bảo làm vỡ ra, hoặc đốt cháy, hoặc bảo đốt cháy thì phạm tội ưng đối trị.

Đất, (lầm) tưởng không phải là đất, vị tự đào, hoặc bảo đào, hoặc làm vỡ ra, hoặc bảo làm vỡ ra, hoặc đốt cháy, hoặc bảo đốt cháy thì vô tội.

Không phải đất, (lầm) tưởng là đất, phạm tội tác ác.

Không phải là đất, có sự hoài nghi, phạm tội tác ác.

Không phải là đất, nhận biết không phải là đất thì vô tội.

353. Vị nói rằng: “Hãy tìm vật này, hãy bố thí vật này, hãy mang lại vật này, có nhu cầu về vật này, hãy làm vật này thành được phép,” không cố ý, khi thất niệm, vị không biết, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.

Dứt điều học thứ mười.

Phần Nói Dối là phần thứ nhất.

Tóm lược phần này:

Dối, mắng nhiếc, đâm thọc,
câu Pháp, nằm hai điều,
với người biết, thực chứng,
tội xấu, việc đào (đất).