Phân Tích Giới Bổn › Phân Tích Giới Tỳ-khưu I › II. Chương Bất Cộng Trụ thứ nhì: Tội trộm cắp · Tỳ khưu Indacanda

PTG 003 - II. CHƯƠNG BẤT CỘNG TRỤ THỨ NHÌ - ĐOẠN 126-175

126. Về những người thợ nhuộm
năm chuyện được đề cập,
bốn chuyện tấm vải choàng,
năm chuyện về ban đêm,
năm chuyện vị mang vác,
đáp thuận theo câu nói
năm chuyện được kể lại,
hai chuyện khác về gió,
ở thi thể chưa hoại,
rút thăm cỏ kusa,
chuyện nhà tắm thứ mười,
vật thú ăn thừa lại
năm chuyện được nói đến,
vị không có hiện diện
cũng đề cập năm chuyện,
lúc khó khăn vật thực
cơm, thịt, và bánh nướng,
bánh ngọt, và thịt ngọt,
vật dụng, cùng túi xách,
tấm nệm, sào máng y,
vị đã không đi ra,
được ăn do thân thiết,
tưởng của mình hai chuyện,
“Chúng tôi không lấy trộm”
như thế có bảy chuyện,
và lấy trộm bảy chuyện,
của hội chúng bảy chuyện,
hai chuyện khác về hoa,
nhân danh người khác nói
có ba chuyện cả thảy,
đem qua ba viên ngọc,
heo rừng, nai, và cá,
di chuyển cả chiếc xe,
chim tha đi hai chuyện,
các khúc gỗ hai chuyện,
vải paṃsukūla,
nước cuốn trôi hai chuyện,
từng chút, sự phân công,
chuyện khác chưa đủ số,
ở thành Sāvatthi
đầy nắm tay bốn chuyện,
phần còn thừa hai chuyện,
có hai chuyện về cỏ,
trái cây thuộc hội chúng
chia phần có bảy chuyện,
không phép chủ bảy chuyện,
gỗ, nước, và đất sét,
và hai chuyện về cỏ,
vị lấy trộm chiếc giường, v.v...
của hội chúng bảy chuyện,
và vật có chủ nhân
cũng không nên di chuyển,
chỉ tạm thời mang đi
vật có chủ thì được,
Campā, và Vương Xá,
và ngài Ajjuka
ở thành Vesālī,
chuyện Bārāṇasī,
và ở Kosambī,
và vị Daḷhika
ở thành Sāgalā.

127. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ‑khưu nhóm Lục Sư đã đi đến chỗ nhuộm y và lấy trộm gói đồ nhuộm. Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Điều học đã được đức Thế Tôn quy định; phải chăng chúng ta đã phạm tội pārājika?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các tỳ‑khưu, các ngươi đã phạm tội pārājika.

128. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ đi đến chỗ nhuộm y nhìn thấy tấm vải quý giá nên đã khởi tâm trộm cắp. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Phải chăng ta đã phạm tội pārājika?” Vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này tỳ‑khưu, vô tội trong (trường hợp) sanh khởi tâm.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ đi đến chỗ nhuộm y nhìn thấy tấm vải quý giá nên khởi tâm trộm cắp và sờ vào.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm tội tác ác.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ đi đến chỗ nhuộm y nhìn thấy tấm vải quý giá nên khởi tâm trộm cắp và làm lay động.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm trọng tội.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ đi đến chỗ nhuộm y nhìn thấy tấm vải quý giá nên khởi tâm trộm cắp và làm dời khỏi vị trí.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.

129. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ đi khất thực nhìn thấy tấm vải choàng quý giá nên đã khởi tâm trộm cắp.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, vô tội trong (trường hợp) sanh khởi tâm.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ đi khất thực nhìn thấy tấm vải choàng quý giá nên đã khởi tâm trộm cắp và sờ vào.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm tội tác ác.

...(như trên)... nên đã khởi tâm trộm cắp và làm lay động. ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm trọng tội.

...(như trên)... nên đã khởi tâm trộm cắp và làm dời khỏi vị trí.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.

130. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ sau khi nhìn thấy đồ vật vào ban ngày rồi đã làm dấu hiệu (nghĩ rằng): “Ta sẽ lấy trộm vào ban đêm.” Vị ấy nhận ra vật ấy rồi lấy trộm vật ấy.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.

...(như trên)... Vị ấy nhận ra vật ấy rồi lấy trộm vật khác. ...(như trên)... Vị ấy nhận ra vật khác rồi lấy trộm vật ấy. ...(như trên)... Vị ấy nhận ra vật khác rồi lấy trộm vật khác. ...(như trên)...
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ sau khi nhìn thấy đồ vật vào ban ngày rồi đã làm dấu hiệu (nghĩ rằng): “Ta sẽ lấy trộm vào ban đêm.” Vị ấy nhận ra vật ấy rồi lấy trộm đồ vật của chính mình.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm tội tác ác.

131. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ trong lúc đang mang đồ vật của người khác đã khởi tâm trộm cắp rồi sờ vào gói đồ ở trên đầu.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm tội tác ác.

...(như trên)... đã khởi tâm trộm cắp rồi làm lay động. ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm trọng tội.

...(như trên)... nên đã khởi tâm trộm cắp và đã đưa xuống vai. ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.

...(như trên)... đã khởi tâm trộm cắp rồi sờ vào gói đồ ở trên vai. ...(như trên)... đã khởi tâm trộm cắp rồi làm lay động. ...(như trên)... đã khởi tâm trộm cắp và đã đưa xuống hông. ...(như trên)... đã khởi tâm trộm cắp rồi sờ vào gói đồ ở hông. ...(như trên)... đã khởi tâm trộm cắp rồi làm lay động. ...(như trên)... đã khởi tâm trộm cắp rồi cầm lấy ở tay. ...(như trên)... đã khởi tâm trộm cắp rồi đặt gói đồ ở tay xuống đất ...(như trên)... đã khởi tâm trộm cắp rồi nhấc lên khỏi mặt đất.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.

132. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ đã căng y ở ngoài trời rồi đi vào trong trú xá. Có vị tỳ‑khưu nọ (nghĩ rằng): “Chớ để y này bị hư hỏng,” nên đã đem cất đi. Vị kia đi ra rồi đã hỏi vị tỳ‑khưu ấy rằng:

- Này đại đức, y của tôi đã bị ai lấy trộm?

Vị ấy nói như vầy:

- Đã bị tôi lấy trộm.

Vị kia đã giữ vị ấy lại (nói rằng):

- Ngươi không phải là sa‑môn.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?

- Bạch Thế Tôn, con (chỉ đáp lại) thuận theo câu nói.

- Này tỳ‑khưu, vô tội trong việc (đáp lại) thuận theo câu nói.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ đã để y ở trên ghế. ...(như trên)... đã để tọa cụ ở trên ghế ...(như trên)... đã để bình bát ở dưới ghế rồi đi vào trong trú xá. Có vị tỳ‑khưu nọ (nghĩ rằng): “Chớ để bình bát này bị hư hỏng,” nên đã đem cất đi. Vị kia đi ra rồi đã hỏi vị tỳ‑khưu ấy rằng:

- Này đại đức, bình bát của tôi đã bị ai lấy trộm?

Vị ấy nói như vầy:

- Đã bị tôi lấy trộm.

Vị kia đã giữ vị ấy lại (nói rằng):

- Ngươi không phải là sa‑môn.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, vô tội trong việc (đáp lại) thuận theo câu nói.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu ni nọ đã căng y ở hàng rào rồi đi vào trong trú xá. Có vị tỳ‑khưu ni nọ (nghĩ rằng): “Chớ để y này bị hư hỏng,” nên đã đem cất đi. Vị ni kia đi ra rồi đã hỏi vị tỳ‑khưu ni ấy rằng:

- Này ni sư, y của tôi đã bị ai lấy trộm?

Vị ni ấy nói như vầy:

- Đã bị tôi lấy trộm.

Vị ni kia đã giữ vị ni ấy lại (nói rằng):

- Cô không còn là nữ sa‑môn nữa.

Vị ni ấy đã có nỗi nghi hoặc. Sau đó, vị tỳ‑khưu ni ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ‑khưu ni. Các tỳ‑khưu ni đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ‑khưu. Các tỳ‑khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các tỳ‑khưu, vô tội trong việc (đáp lại) thuận theo câu nói.

133. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ nhìn thấy một tấm vải choàng bị cuốn đi bởi cơn gió xoáy nên đã nhặt lấy (nghĩ rằng): “Ta sẽ cho lại những người chủ.” Những người chủ đã quở trách vị tỳ‑khưu ấy rằng:

- Ngươi không phải là sa‑môn.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?

- Bạch Thế Tôn, con không có ý định trộm cắp.

- Này tỳ‑khưu, vị không có ý định trộm cắp thì vô tội.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ đã nhặt lấy khăn xếp đội đầu bị cuốn đi bởi cơn gió xoáy với ý định trộm cắp (nghĩ rằng): “(Phải nhặt lấy) trước khi những người chủ nhìn thấy.” Những người chủ đã quở trách vị tỳ‑khưu ấy rằng:

- Ngươi không phải là sa‑môn.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?

- Bạch Thế Tôn, con có ý định trộm cắp.

- Này tỳ‑khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.

134. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ đi vào nơi nghĩa địa đã nhặt lấy vải paṃsukūla ở thi thể chưa hoại. Và có ngạ quỷ (peta) trú trong thi thể ấy. Khi ấy, ngạ quỷ ấy đã nói với vị tỳ‑khưu điều này:

- Thưa ngài, xin chớ lấy đi tấm vải choàng của tôi.

Vị tỳ‑khưu ấy không chú ý đến nên đã nhặt lấy. Khi ấy, thi thể ấy đã đứng dậy và đi sát phía sau vị tỳ‑khưu ấy. Sau đó, vị tỳ‑khưu ấy đã đi vào trú xá và đóng cửa lại. Khi ấy, thi thể ấy đã té xuống ngay tại chỗ ấy.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi không phạm tội pārājika. Và này các tỳ‑khưu, không nên lấy vải paṃsukūla ở thi thể chưa hoại; vị nào lấy thì phạm tội tác ác.

135. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ trong lúc phân chia các y cho hội chúng đã tráo thăm (kusa) với ý định trộm cắp và lấy được y.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.

136. Vào lúc bấy giờ, ở trong nhà tắm hơi đại đức Ānanda nghĩ là của mình nên đã mặc vào y nội của vị tỳ‑khưu nọ. Khi ấy, vị tỳ‑khưu ấy đã nói với đại đức Ānanda điều này:

- Này đại đức Ānanda, sao đại đức lại mặc y nội của tôi?

- Này đại đức, tôi tưởng là của tôi.

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các tỳ‑khưu, vị (lầm) tưởng là của mình thì vô tội.

137. Vào lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ‑khưu trong lúc đi xuống từ núi Gijjhakūṭā đã nhìn thấy phần thịt ăn còn thừa của sư tử nên đã cho nấu chín rồi thọ dụng. Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các tỳ‑khưu, (trong trường hợp) phần thịt ăn còn thừa của sư tử thì vô tội.

Vào lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ‑khưu trong lúc đi xuống từ núi Gijjhakūṭā đã nhìn thấy phần thịt ăn còn thừa của loài cọp ...(như trên)... đã nhìn thấy phần thịt ăn còn thừa của loài beo ...(như trên)... đã nhìn thấy phần thịt ăn còn thừa của loài linh cẩu ...(như trên)... đã nhìn thấy phần thịt ăn còn thừa của chó sói nên đã cho nấu chín rồi thọ dụng.
Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này các tỳ‑khưu, (trong trường hợp) vật thuộc về loài thú thì vô tội.

138. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ trong khi cơm của hội chúng được phân chia (đã nói rằng): “Hãy trao cho tôi phần của vị khác” rồi lấy phần của vị không có hiện diện.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm tội ưng đối trị trong việc cố tình nói dối.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ trong khi vật thực cứng của hội chúng được phân chia ...(như trên)... trong khi bánh nướng (pūva) của hội chúng được phân chia ...(như trên)... trong khi mía cây của hội chúng được phân chia ...(như trên)... trong khi dưa của hội chúng được phân chia ...(như trên)... (nói rằng): “Hãy trao cho tôi phần của vị khác” rồi lấy phần của vị không có hiện diện.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm tội ưng đối trị trong việc cố tình nói dối.

139. Vào lúc bấy giờ, trong thời kỳ khó khăn về vật thực có vị tỳ‑khưu nọ có ý định trộm cắp đã đi vào cửa hàng bán cơm lấy trộm đầy bát cơm.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.

Vào lúc bấy giờ, trong thời kỳ khó khăn về vật thực có vị tỳ‑khưu nọ có ý định trộm cắp đã đi vào cửa hàng bán thịt lấy trộm đầy bát thịt.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.

Vào lúc bấy giờ, trong thời kỳ khó khăn về vật thực có vị tỳ‑khưu nọ có ý định trộm cắp đã đi vào cửa hàng bán bánh nướng lấy trộm đầy bát bánh nướng. ...(như trên)... có ý định trộm cắp đã lấy trộm đầy bát bánh ngọt ...(như trên)... có ý định trộm cắp đã lấy trộm đầy bát thịt ngọt.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.

140. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ sau khi nhìn thấy vật dụng vào ban ngày rồi đã làm dấu hiệu (nghĩ rằng): “Ta sẽ lấy trộm vào ban đêm.” Vị ấy nhận ra vật ấy rồi lấy trộm vật ấy. ...(như trên)... Vị ấy nhận ra vật ấy rồi lấy trộm vật khác. ...(như trên)... Vị ấy nhận ra vật khác rồi lấy trộm vật ấy. ...(như trên)... Vị ấy nhận ra vật khác rồi lấy trộm vật khác.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ sau khi nhìn thấy vật dụng vào ban ngày rồi đã làm dấu hiệu (nghĩ rằng): “Ta sẽ lấy trộm vào ban đêm.” Vị ấy nhận ra vật ấy rồi lấy trộm vật dụng của chính mình.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm tội tác ác.

141. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ sau khi nhìn thấy túi xách ở trên ghế (nghĩ rằng): “Trong khi lấy từ chỗ này thì ta sẽ phạm tội pārājika” nên đã di chuyển luôn cả cái ghế rồi mới đoạt lấy.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.

142. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ có định trộm cắp đã lấy trộm nệm của hội chúng.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.

143. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ có định trộm cắp đã lấy trộm y ở sào máng y.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.

144. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ sau khi đã lấy trộm y ở trong trú xá (nghĩ rằng): “Khi đi ra khỏi đây thì ta sẽ phạm tội pārājika,” rồi đã không đi ra khỏi trú xá. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các tỳ‑khưu, kẻ rồ dại ấy có đi ra hay không đi ra cũng đã phạm tội pārājika.

145. Vào lúc bấy giờ, có hai vị tỳ‑khưu là bạn bè, một vị đã đi vào làng để khất thực. Còn vị thứ nhì, trong khi vật thực cứng của hội chúng được phân phát, đã nhận phần của người bạn và đã thọ dụng do sự thân thiết với vị ấy. Vị kia biết được đã quở trách vị ấy rằng:

- Ngươi không phải là sa‑môn.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?

- Bạch Thế Tôn, con lấy do sự thân thiết.

- Này tỳ‑khưu, trường hợp lấy do sự thân thiết thì vô tội.

146. Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ‑khưu thực hiện việc may y. Khi vật thực cứng của hội chúng được phân chia, các phần chia của tất cả các vị đã được mang đến và để ở bên cạnh. Có vị tỳ‑khưu nọ (lầm) tưởng phần chia của vị tỳ‑khưu khác là của mình nên đã thọ dụng. Vị kia biết được đã quở trách vị ấy rằng:

- Ngươi không phải là sa‑môn.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, vị (lầm) tưởng là của mình thì vô tội.

Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ‑khưu thực hiện việc may y. Khi vật thực cứng của hội chúng được phân chia, phần chia của vị tỳ‑khưu nọ được mang lại bằng bình bát của vị tỳ‑khưu khác và được để xuống gần đó. Vị tỳ‑khưu chủ nhân của bình bát tưởng (lầm) là của mình nên đã thọ dụng. Vị kia biết được đã quở trách vị ấy rằng:

- Ngươi không phải là sa‑môn.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, vị tưởng (lầm) là của mình thì vô tội.

147. Vào lúc bấy giờ, có các kẻ trộm xoài đã hái xoài rồi mang theo gói (xoài) bỏ đi. Những người chủ đã đuổi theo các kẻ trộm ấy. Khi nhìn thấy những người chủ, các kẻ trộm đã đánh rơi gói (xoài) rồi tẩu thoát. Các vị tỳ‑khưu tưởng rằng gói (xoài) ấy là vật quăng bỏ nên đã cho người nhặt lấy rồi thọ dụng. Những người chủ đã quở trách các vị tỳ‑khưu ấy rằng:

- Các người không phải là sa‑môn.

Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các tỳ‑khưu, (khi ấy) các ngươi có tâm gì?

- Bạch Thế Tôn, chúng con (lầm) tưởng là vật quăng bỏ.

- Này các tỳ‑khưu, vị (lầm) tưởng là vật quăng bỏ thì vô tội.

Vào lúc bấy giờ, có các kẻ trộm trái táo hồng (jambū) ...(như trên)... các kẻ trộm trái bánh mì ...(như trên)... các kẻ trộm trái mít ...(như trên)... các kẻ trộm trái chà là ...(như trên)... các kẻ trộm mía (ucchu) ...(như trên)... các kẻ trộm dưa sau khi gom các quả dưa lại rồi mang theo gói (dưa) bỏ đi. Những người chủ đã đuổi theo các kẻ trộm ấy. Khi nhìn thấy những người chủ, các kẻ trộm đã đánh rơi gói (dưa) rồi tẩu thoát. Các vị tỳ‑khưu tưởng rằng gói (dưa) ấy là vật quăng bỏ nên đã cho người nhặt lấy rồi thọ dụng. Những người chủ đã quở trách các vị tỳ‑khưu ấy rằng:

- Các người không phải là sa‑môn.

Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này các tỳ‑khưu, vị (lầm) tưởng là vật quăng bỏ thì vô tội.

148. Vào lúc bấy giờ, có các kẻ trộm xoài đã hái xoài rồi mang theo gói (xoài) bỏ đi. Những người chủ đã đuổi theo các kẻ trộm ấy. Khi nhìn thấy những người chủ, các kẻ trộm đã đánh rơi gói (xoài) rồi tẩu thoát. Các vị tỳ‑khưu có ý định trộm cắp (nghĩ rằng): “(Phải ăn) trước khi những người chủ nhìn thấy,” rồi đã thọ dụng. Những người chủ đã quở trách các vị tỳ‑khưu ấy rằng:

- Các người không phải là sa‑môn.

Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này các tỳ‑khưu, các ngươi đã phạm tội pārājika.

Vào lúc bấy giờ, có các kẻ trộm trái táo hồng ...(như trên)... các kẻ trộm trái bánh mì ...(như trên)... các kẻ trộm trái mít ...(như trên)... các kẻ trộm trái chà là ...(như trên)... các kẻ trộm mía ...(như trên)... các kẻ trộm dưa sau khi gom các quả dưa lại rồi mang theo gói (dưa) bỏ đi. Những người chủ đã đuổi theo các kẻ trộm ấy. Khi nhìn thấy những người chủ, các kẻ trộm đã đánh rơi gói (dưa) rồi tẩu thoát. Các vị tỳ‑khưu có ý định trộm cắp (nghĩ rằng): “(Phải ăn) trước khi những người chủ nhìn thấy,” rồi đã thọ dụng. Những người chủ đã quở trách các vị tỳ‑khưu ấy rằng:

- Các người không phải là sa‑môn.

Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này các tỳ‑khưu, các ngươi đã phạm tội pārājika.

149. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ với ý định trộm cắp đã lấy trộm xoài của hội chúng. ...(như trên)... trái táo hồng của hội chúng. ...(như trên)... trái bánh mì của hội chúng. ...(như trên)... trái mít của hội chúng. ...(như trên)... trái chà là của hội chúng. ...(như trên)... mía của hội chúng. ...(như trên)... dưa của hội chúng.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.

150. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ đi đến vườn hoa với ý định trộm cắp đã lấy trộm bông hoa đã được hái trị giá năm māsaka.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ đi đến vườn hoa. Sau khi hái bông hoa trị giá năm māsaka, vị ấy có ý định trộm cắp nên đã lấy trộm.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.

151. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ trong lúc đi đến ngôi làng nhỏ đã nói với vị tỳ‑khưu khác điều này:

- Này đại đức, được đại đức cho phép nên tôi sẽ nhân danh đại đức nói với gia đình hộ độ của đại đức.

Vị ấy sau khi đi đến đã bảo đem lại một tấm vải choàng và đã sử dụng cho bản thân. Vị kia biết được đã quở trách vị ấy rằng:

- Ngươi không phải là sa‑môn.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi đã không phạm tội pārājika. Và này các tỳ‑khưu, không nên nói rằng: “Được đại đức cho phép nên tôi sẽ nói nhân danh đại đức.” Vị nào nói thì phạm tội tác ác.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ đi đến ngôi làng nhỏ. Có vị tỳ‑khưu nọ đã nói với vị tỳ‑khưu ấy điều này:

- Này đại đức, được tôi cho phép nên đại đức hãy nhân danh tôi nói với gia đình hộ độ của tôi.

Vị ấy sau khi đi đến đã bảo đem lại hai tấm vải choàng và đã sử dụng cho bản thân một tấm, còn đưa cho vị tỳ‑khưu kia một tấm. Vị kia biết được đã quở trách vị ấy rằng:

- Ngươi không phải là sa‑môn.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi đã không phạm tội pārājika. Và này các tỳ‑khưu, không nên nói rằng: “Được tôi cho phép nên đại đức hãy nói nhân danh tôi.” Vị nào nói thì phạm tội tác ác.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ trong lúc đi đến ngôi làng nhỏ đã nói với vị tỳ‑khưu khác điều này:

- Này đại đức, được đại đức cho phép nên tôi sẽ nhân danh đại đức nói với gia đình hộ độ của đại đức.

Vị kia cũng đã nói như vầy:

- Được tôi cho phép nên đại đức hãy nhân danh tôi nói với gia đình hộ độ của tôi.

Vị ấy sau khi đi đến đã bảo đem lại một āḷhakaṃ bơ lỏng, một tulaṃ mật đường, và một doṇaṃ gạo rồi đã thọ dụng cho bản thân. Vị kia biết được đã quở trách vị ấy rằng:

- Ngươi không phải là sa‑môn.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi đã không phạm tội pārājika. Và này các tỳ‑khưu, không nên nói rằng: “Được đại đức cho phép nên tôi sẽ nói nhân danh đại đức,” và không nên nói rằng: “Được tôi cho phép nên đại đức hãy nói nhân danh tôi.” Vị nào nói thì phạm tội tác ác.

152. Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ mang theo viên ngọc ma‑ni quý giá cùng đi đường xa với vị tỳ‑khưu nọ. Rồi khi nhìn thấy trạm thuế, người đàn ông ấy đã lén bỏ viên ngọc ma‑ni vào trong túi xách của vị tỳ‑khưu ấy và sau khi qua khỏi trạm thuế đã lấy lại.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?

- Bạch Thế Tôn, con không biết.

- Này tỳ‑khưu, vị không biết thì vô tội.

Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ mang theo viên ngọc ma‑ni quý giá cùng đi đường xa với vị tỳ‑khưu nọ. Rồi khi nhìn thấy trạm thuế, người đàn ông ấy giả vờ bị bệnh rồi đã trao gói đồ của mình cho vị tỳ‑khưu ấy. Sau khi qua khỏi trạm thuế, người đàn ông ấy đã nói với vị tỳ‑khưu ấy điều này:

- Thưa ngài, xin hãy trao gói đồ cho tôi. Tôi không có bệnh.

- Này đạo hữu, tại sao ngươi làm như thế?

Khi ấy, người đàn ông ấy đã kể lại sự việc ấy cho vị tỳ‑khưu ấy.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?

- Bạch Thế Tôn, con không biết.

- Này tỳ‑khưu, vị không biết thì vô tội.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ đi đường xa cùng với chiếc xe ngựa. Một người đàn ông nọ đã dùng tài vật mua chuộc vị tỳ‑khưu ấy, đến khi nhìn thấy trạm thuế đã trao cho vị tỳ‑khưu ấy một viên ngọc ma‑ni quý giá (nói rằng):

- Thưa ngài, hãy đem viên ngọc ma‑ni này qua khỏi trạm thuế.

Rồi vị tỳ‑khưu ấy đã đem viên ngọc ma‑ni ấy qua khỏi trạm thuế.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.

153. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ đã thả ra một con heo rừng bị mắc bẫy vì lòng trắc ẩn.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?

- Bạch Thế Tôn, con vì lòng trắc ẩn thôi thúc.

- Này tỳ‑khưu, vị vì lòng trắc ẩn thôi thúc thì vô tội.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ đã thả ra một con heo rừng bị mắc bẫy với ý định trộm cắp (nghĩ rằng): “(Phải hành động) trước khi các người chủ nhìn thấy.”
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ đã thả ra một con nai bị mắc bẫy vì lòng trắc ẩn. ...(như trên)... đã thả ra một con nai bị mắc bẫy với ý định trộm cắp (nghĩ rằng): “(Phải hành động) trước khi các người chủ nhìn thấy.” ...(như trên)... đã thả ra những con cá bị vướng vào rọ vì lòng trắc ẩn. ...(như trên)... đã thả ra những con cá bị vướng vào rọ với ý định trộm cắp (nghĩ rằng): “(Phải hành động) trước khi các người chủ nhìn thấy.”
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.

154. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ sau khi nhìn thấy gói đồ ở trong chiếc xe (nghĩ rằng): “Trong khi lấy từ chỗ này thì ta sẽ phạm tội pārājika” nên đã bước lên đánh xe đi rồi mới đoạt lấy.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.

155. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ đã nhặt lấy miếng thịt bị chim ưng tha đi (nghĩ rằng): “Ta sẽ cho lại những người chủ.” Những người chủ đã quở trách vị tỳ‑khưu ấy rằng:

- Ngươi không phải là sa‑môn.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, vị không có ý định trộm cắp thì vô tội.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ đã nhặt lấy miếng thịt bị chim ưng tha đi với ý định trộm cắp (nghĩ rằng): “(Phải hành động) trước khi các người chủ nhìn thấy.” Những người chủ đã quở trách vị tỳ‑khưu ấy rằng:

- Ngươi không phải là sa‑môn.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.

156. Vào lúc bấy giờ, dân chúng buộc (các khúc gỗ) lại thành bè rồi thả xuôi dòng sông Aciravatī. Khi các dây buộc bị đứt, các khúc gỗ đã bị phân tán trôi đi. Các vị tỳ‑khưu tưởng là vật quăng bỏ nên đã vớt lên. Những người chủ đã quở trách các vị tỳ‑khưu ấy rằng:

- Các người không phải là sa‑môn.

Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này các tỳ‑khưu, vị (lầm) tưởng là vật quăng bỏ thì vô tội.

Vào lúc bấy giờ, dân chúng buộc (các khúc gỗ) lại thành bè rồi thả xuôi dòng sông Aciravatī. Khi các dây buộc bị đứt, các khúc gỗ đã bị phân tán trôi đi. Các vị tỳ‑khưu đã vớt lên với ý định trộm cắp (nghĩ rằng): “(Phải hành động) trước khi các người chủ nhìn thấy.” Những người chủ đã quở trách các vị tỳ‑khưu ấy rằng:

- Các người không phải là sa‑môn.

Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này các tỳ‑khưu, các ngươi đã phạm tội pārājika.

157. Vào lúc bấy giờ, có người chăn bò nọ đã treo tấm vải choàng trên cây rồi đi đại tiện. Có vị tỳ‑khưu tưởng là vật quăng bỏ nên đã nhặt lấy. Khi ấy, người chăn bò ấy đã quở trách vị tỳ‑khưu ấy rằng:

- Ngươi không phải là sa‑môn.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, vị (lầm) tưởng là vật quăng bỏ thì vô tội.

158. Vào lúc bấy giờ, trong lúc vị tỳ‑khưu nọ đang lội qua sông, có một tấm vải choàng bị truột khỏi tay của những người thợ nhuộm (trôi đến) vướng vào chân (của vị ấy). Vị tỳ‑khưu ấy đã nhặt lên (nghĩ rằng): “Ta sẽ cho lại những người chủ.” Những người chủ đã quở trách vị tỳ‑khưu ấy rằng:

- Ngươi không phải là sa‑môn.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, vị không có ý định trộm cắp thì vô tội.

Vào lúc bấy giờ, trong lúc vị tỳ‑khưu nọ đang lội qua sông, có một tấm vải choàng bị truột khỏi tay của những người thợ nhuộm (trôi đến) vướng vào chân (của vị ấy). Vị tỳ‑khưu ấy đã nhặt lấy với ý định trộm cắp (nghĩ rằng): “(Phải hành động) trước khi các người chủ nhìn thấy.” Những người chủ đã quở trách vị tỳ‑khưu ấy rằng:

- Ngươi không phải là sa‑môn.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.

159. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ nhìn thấy hũ bơ lỏng nên đã thọ dụng mỗi lần một chút ít.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm tội tác ác.

160. Vào lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ‑khưu đã cùng nhau phân công rồi ra đi (nghĩ rằng): “Chúng ta sẽ lấy trộm đồ vật.” Một vị đã lấy trộm đồ vật. Các vị ấy đã nói như vầy:

- Chúng ta không phạm tội pārājika. Vị nào lấy trộm thì phạm tội pārājika.

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các tỳ‑khưu, các ngươi đã phạm tội pārājika.

Vào lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ‑khưu sau khi đã cùng nhau phân công rồi đã lấy trộm đồ vật và chia phần. Phần chia được các vị ấy chia ra cho mỗi một vị không đủ năm māsaka. Các vị ấy đã nói như vầy:

- Chúng ta không phạm tội pārājika.

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các tỳ‑khưu, các ngươi đã phạm tội pārājika.

161. Vào lúc bấy giờ, trong lúc ở thành Sāvatthi có khó khăn về vật thực, có vị tỳ‑khưu nọ có ý định trộm cắp đã lấy trộm một nắm (tay) gạo của người chủ tiệm.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.

Vào lúc bấy giờ, trong lúc ở thành Sāvatthi có khó khăn về vật thực, có vị tỳ‑khưu nọ có ý định trộm cắp đã lấy trộm một nắm (tay) đậu ...(như trên)... một nắm (tay) đậu tây ...(như trên)... một nắm (tay) hạt mè của người chủ tiệm.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.

162. Vào lúc bấy giờ, trong khu rừng Andha ở thành Sāvatthi, các kẻ trộm sau khi giết con bò cái, đã ăn thịt, sau khi thu dọn phần còn thừa (để ở một nơi), rồi đi. Các vị tỳ‑khưu tưởng là vật quăng bỏ nên đã cho người nhặt lấy và thọ dụng. Các kẻ trộm đã quở trách các vị tỳ‑khưu ấy rằng:

- Các người không phải là sa‑môn.

Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này các tỳ‑khưu, vị (lầm) tưởng là vật quăng bỏ thì vô tội.

Vào lúc bấy giờ, trong khu rừng Andha ở thành Sāvatthi, các kẻ trộm sau khi giết con heo rừng, đã ăn thịt, sau khi thu dọn phần còn thừa (để ở một nơi), rồi đi. Các vị tỳ‑khưu tưởng là vật quăng bỏ nên đã cho người nhặt lấy và thọ dụng. Các kẻ trộm đã quở trách các vị tỳ‑khưu ấy rằng:

- Các người không phải là sa‑môn.

Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này các tỳ‑khưu, vị (lầm) tưởng là vật quăng bỏ thì vô tội.

163. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ, sau khi đi đến cánh đồng cỏ, có ý định trộm cắp rồi đã lấy trộm cỏ được cắt sẵn trị giá năm māsaka.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.

164. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ sau khi đi đến cánh đồng cỏ và cắt (số lượng) cỏ trị giá năm māsaka, có ý định trộm cắp rồi đã lấy trộm.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.

165. Vào lúc bấy giờ, các tỳ‑khưu vãng lai sau khi bảo chia phần xoài của hội chúng rồi đã thọ dụng. Các tỳ‑khưu thường trú đã quở trách các vị tỳ‑khưu ấy rằng:

- Các người không phải là sa‑môn.

Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các tỳ‑khưu, (khi ấy) các ngươi có tâm gì?

- Bạch Thế Tôn, chúng con có nhu cầu về thọ thực.

- Này các tỳ‑khưu, (trường hợp) có nhu cầu về thọ thực thì vô tội.

Vào lúc bấy giờ, các tỳ‑khưu vãng lai sau khi bảo chia phần trái táo hồng của hội chúng ...(như trên)... trái bánh mì của hội chúng ...(như trên)... trái mít của hội chúng ...(như trên)... trái chà là của hội chúng ...(như trên)... mía của hội chúng ...(như trên)... dưa của hội chúng rồi đã thọ dụng. Các tỳ‑khưu thường trú đã quở trách các vị tỳ‑khưu ấy rằng:

- Các người không phải là sa‑môn.

Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các tỳ‑khưu, (khi ấy) các ngươi có tâm gì?

- Bạch Thế Tôn, chúng con có nhu cầu về thọ thực.

- Này các tỳ‑khưu, (trường hợp) có nhu cầu về thọ thực thì vô tội.

166. Vào lúc bấy giờ, những người canh giữ xoài dâng trái xoài đến các vị tỳ‑khưu. Các vị tỳ‑khưu (nghĩ rằng): “Các người chủ bảo họ canh giữ các vật này chớ không bảo dâng các vật này,” nên đã ngần ngại không thọ nhận. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các tỳ‑khưu, vô tội trong việc bố thí của những người giữ vườn.

Vào lúc bấy giờ, những người canh giữ táo hồng ...(như trên)... những người canh giữ trái bánh mì ...(như trên)... những người canh giữ mít ...(như trên)... những người canh giữ trái chà là ...(như trên)... những người canh giữ mía ...(như trên)... những người canh giữ dưa dâng những quả dưa đến các vị tỳ‑khưu. Các vị tỳ‑khưu (nghĩ rằng): “Các người chủ bảo họ canh giữ các vật này chớ không bảo dâng các vật này,” nên đã ngần ngại không thọ nhận. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các tỳ‑khưu, vô tội trong việc bố thí của những người giữ vườn.

167. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ lấy có tính cách tạm thời cây gỗ của hội chúng để chống đỡ bức tường của trú xá của bản thân. Các tỳ‑khưu đã quở trách vị tỳ‑khưu ấy rằng:

- Ngươi không phải là sa‑môn.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. Vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này tỳ‑khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?

- Bạch Thế Tôn, con (lấy) có tính cách tạm thời.

- Này tỳ‑khưu, (trường hợp) có tính cách tạm thời thì vô tội.

168. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ có ý định trộm cắp đã lấy trộm nước của hội chúng ...(như trên)... có ý định trộm cắp đã lấy trộm đất sét của hội chúng ...(như trên)... có ý định trộm cắp đã lấy trộm cỏ muñja của hội chúng ...(như trên)...
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ có ý định trộm cắp đã đốt cháy cỏ muñja của hội chúng ...(như trên)...
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm tội tác ác.

169. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ có ý định trộm cắp đã lấy trộm giường của hội chúng.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ‑khưu nọ có ý định trộm cắp đã lấy trộm ghế của hội chúng ...(như trên)... nệm của hội chúng ...(như trên)... gối của hội chúng ...(như trên)... cánh cửa lớn của hội chúng ...(như trên)... cửa sổ của hội chúng ...(như trên)... đà gỗ của hội chúng.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này tỳ‑khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.

170. Vào lúc bấy giờ, các tỳ‑khưu sử dụng chỗ nằm ngồi là vật dụng trong trú xá của người nam cư sĩ nọ tại một địa điểm khác. Khi ấy, người nam cư sĩ ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao các ngài đại đức lại sử dụng đồ đạc của địa điểm này tại địa điểm khác?

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các tỳ‑khưu, không nên sử dụng đồ đạc của địa điểm này tại địa điểm khác. Vị nào sử dụng thì phạm tội tác ác.

Vào lúc bấy giờ, các tỳ‑khưu ngần ngại di chuyển (thảm lót) đến nhà hành lễ Uposatha và phòng hội họp nên đã ngồi xuống ở nền nhà. Các thân mình và y phục đều bị dơ bẩn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các tỳ‑khưu, ta cho phép di chuyển có tính cách tạm thời.

171. Vào lúc bấy giờ ở xứ Campā, vị tỳ‑khưu ni học trò của tỳ‑khưu ni Thullanandā đã đi đến gia đình hộ độ tỳ‑khưu ni Thullanandā (nói rằng): “Ni sư muốn uống cháo gồm ba thứ;” sau khi bảo nấu, đã mang đi, rồi đã thọ dụng cho chính bản thân. tỳ‑khưu ni Thullanandā biết được đã quở trách rằng:

- Ngươi không phải là nữ sa‑môn.

Vị ni ấy đã có nỗi nghi hoặc. Sau đó, vị tỳ‑khưu ni ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ‑khưu ni. Các tỳ‑khưu ni đã kể lại sự việc ấy đến các tỳ‑khưu. Các tỳ‑khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các tỳ‑khưu, vị ni ấy không phạm tội pārājika mà phạm tội ưng đối trị trong việc cố tình nói dối.

Vào lúc bấy giờ ở thành Rājagaha, vị tỳ‑khưu ni học trò của tỳ‑khưu ni Thullanandā đã đi đến gia đình hộ độ tỳ‑khưu ni Thullanandā (nói rằng): “Ni sư muốn ăn mật viên;” sau khi bảo nấu, đã mang đi, rồi đã thọ dụng cho chính bản thân. tỳ‑khưu ni Thullanandā biết được đã quở trách rằng:

- Ngươi không phải là nữ sa‑môn.

Vị ni ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...

- Này các tỳ‑khưu, vị ni ấy không phạm tội pārājika mà phạm tội ưng đối trị trong việc cố tình nói dối.

172. Vào lúc bấy giờ ở thành Vesālī, người gia chủ hộ độ đại đức Ajjuka có hai đứa trẻ trai: (một) là con trai và (đứa kia) là cháu trai. Khi ấy, người gia chủ ấy đã nói với đại đức Ajjuka điều này:

- Thưa ngài, trong hai đứa trẻ trai này, đứa nào có đức tin và mộ đạo thì ngài nên trao cơ hội này cho đứa ấy.

Người ấy đã qua đời. Vào lúc bấy giờ, đứa cháu trai của người gia chủ ấy thì có đức tin và mộ đạo. Khi ấy, đại đức Ajjuka đã trao cơ hội ấy cho đứa trẻ trai ấy. Với của cải ấy, người ấy đã bảo quản được tài sản và còn tạo việc bố thí nữa. Rồi người con trai của vị gia chủ ấy đã nói với đại đức Ānanda điều này:

- Thưa ngài Ānanda, ai thật sự là người thừa tự của người cha: là con trai hay là cháu trai?

- Này đạo hữu, người con trai chính là người thừa tự của người cha.

- Thưa ngài, đại đức Ajjuka này đã bảo rằng của cải của chúng tôi là thuộc về người anh (em) họ của chúng tôi

- Này đạo hữu, đại đức Ajjuka không phải là sa‑môn.

Sau đó, đại đức Ajjuka đã nói với đại đức Ānanda điều này:

- Này đại đức Ānanda, hãy cho tôi một cuộc phân xử.

Vào lúc bấy giờ, đại đức Upāli là thuộc về phe của đại đức Ajjuka. Khi ấy, đại đức Upāli đã nói với đại đức Ānanda điều này:

- Này đại đức Ānanda, vị (tỳ‑khưu) được sở hữu chủ nói rằng: “Hãy trao cơ hội này cho người tên như vầy” rồi đã trao cho người ấy (theo lời dặn dò) thì phạm tội gì?

- Thưa ngài, vị ấy không phạm tội gì cho dù là tội tác ác đi nữa.

- Này đại đức, đại đức Ajjuka được sở hữu chủ nói rằng: “Hãy trao cơ hội này cho người tên như vầy” rồi đã trao cho người ấy (theo lời dặn dò). Này đại đức, đại đức Ajjuka là vô tội.

173. Vào lúc bấy giờ, ở thành Bārāṇasī, gia đình hộ độ đại đức Pilindavaccha bị bọn đạo tặc cướp bóc và hai đứa trẻ trai đã bị bắt đi. Sau đó, đại đức Pilindavaccha đã dùng thần thông đưa hai đứa trẻ ấy về lại và để ở sân nhà. Dân chúng sau khi nhìn thấy hai đứa trẻ (đã nói rằng): “Đây là năng lực thần thông của ngài Pilindavaccha!” rồi đã đặt trọn niềm tin nơi đại đức Pilindavaccha. Các vị tỳ‑khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Tại sao đại đức Pilindavaccha lại đưa về những đứa trẻ đã bị bọn đạo tặc bắt đi?

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các tỳ‑khưu, trong lãnh vực về thần thông, vị có thần thông thì vô tội.

174. Vào lúc bấy giờ, có hai vị tỳ‑khưu là bạn bè, Paṇḍaka và Kapila. Một vị cư trú ở ngôi làng nhỏ, vị kia cư trú ở thành Kosambī. Rồi vị tỳ‑khưu ấy trong lúc đi từ ngôi làng nhỏ đến thành Kosambī, ở giữa đường trong lúc lội qua con sông, có xâu thịt mỡ bị truột khỏi tay đám thợ săn heo rừng (trôi đến) vướng vào chân (của vị ấy). Vị tỳ‑khưu ấy (nghĩ rằng): “Ta sẽ trao lại cho các người chủ,” rồi đã nhặt lấy. Các người chủ đã quở trách vị tỳ‑khưu ấy rằng:

- Ngươi không phải là sa‑môn.

Một cô chăn bò nọ khi nhìn thấy vị ấy đi ngang qua đã nói điều này:

- Thưa ngài, hãy đến. Hãy thực hiện việc đôi lứa.

Vị ấy (nghĩ rằng): “Tự trong bản chất, ta không phải là sa‑môn nữa rồi!” nên đã thực hiện việc đôi lứa với cô ấy, sau đó đã đi đến thành Kosambī và kể lại sự việc ấy cho các tỳ‑khưu. Các tỳ‑khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các tỳ‑khưu, vị ấy không phạm tội pārājika trong việc trộm cắp, vị ấy phạm tội pārājika có liên quan đến việc đôi lứa.

175. Vào lúc bấy giờ, ở thành Sāgalā, vị tỳ‑khưu đệ tử của đại đức Daḷhika bị bực bội bởi sự không thỏa thích nên đã lấy trộm khăn xếp đội đầu của người chủ tiệm rồi nói với đại đức Daḷhika điều này:

- Bạch ngài, tôi không phải là sa‑môn, tôi sẽ hoàn tục.

- Này đại đức, ngươi đã làm điều gì?

- Bạch ngài, tôi đã lấy khăn xếp đội đầu của người chủ tiệm.

Vị ấy đã cho người đem lại và cho người định giá (vật ấy). Trong khi được định giá, vật ấy có giá trị không đến năm māsaka.

- Này đại đức, ngươi không phạm tội pārājika.

Rồi vị ấy đã thuyết Pháp thoại và vị tỳ‑khưu ấy đã trở nên hoan hỷ.

Dứt điều pārājika thứ nhì.