Kinh Tương Ưng Bộ
SN 1.1-10 - PHẨM CÂY LAU
I: Bộc Lưu
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Xá‑vệ, Thắng Lâm, tại vườn ông Cấp Cô Độc.
Rồi một vị Thiên, khi đêm đã gần tàn, với nhan sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, vị Thiên ấy bạch Thế Tôn:
- Thưa Tôn giả, làm sao Ngài vượt khỏi bộc lưu?
- Này Hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi bộc lưu.
- Thưa Tôn giả, làm sao không đứng lại, không bước tới, Ngài vượt khỏi bộc lưu?
- Này Hiền giả, khi Ta đứng lại, thời Ta chìm xuống. Này Hiền giả, khi Ta bước tới, thời Ta trôi giạt; do vậy, này Hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi bộc lưu.
Vị Thiên:
Từ lâu, tôi mới thấy
Bà‑la‑môn tịch tịnh.
Không đứng, không bước tới,
Vượt chấp trước ở đời.
Vị Thiên ấy nói như vậy và bậc Đạo Sư chấp nhận. Vị Thiên ấy biết được: "Thế Tôn đã chấp nhận ta". Vị ấy đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, rồi biến mất tại chỗ.
II. Giải Thoát
... Ở Sàvatthi. Rồi một vị Thiên, khi đêm đã gần tàn, với nhan sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, vị ấy đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, vị Thiên ấy bạch Thế Tôn:
- Thưa Tôn giả, Ngài có biết giải thoát, thoát ly, viễn ly cho các chúng sanh không?
- Này Hiền giả, Ta có biết giải thoát, thoát ly, viễn ly cho các chúng sanh.
- Thưa Tôn giả, như thế nào Ngài biết giải thoát, thoát ly, viễn ly cho các chúng sanh?
Hỷ, tái sanh đoạn tận,
Tưởng, thức được trừ diệt,
Các thọ diệt, tịch tịnh,
Như vậy này Hiền giả,
Ta biết sự giải thoát,
Thoát ly và viễn ly,
Cho các loại chúng sanh.
III. Đưa Đến Đoạn Tận
... Đứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Mạng sống bị dắt dẫn,
Tuổi thọ chẳng là bao,
Bị dẫn đến già nua,
Không có nơi dừng bước.
Ai đem tâm quán tưởng,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy làm các công đức,
Đưa đến chơn an lạc.
Thế Tôn:
Mạng sống bị dắt dẫn,
Tuổi thọ chẳng là bao,
Bị dẫn đến già nua,
Không có nơi dừng bước.
Ai đem tâm quán tưởng,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy bỏ mọi thế lợi,
Tâm hướng cầu tịch tịnh.
IV. Thời Gian Trôi Qua
... (Nhân duyên ở (Sàvatthi), đứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Thời gian (lặng) trôi qua,
Đêm (ngày luôn) di động,
Tuổi tác buổi thanh xuân,
Tiếp tục bỏ chúng ta.
Những ai chịu quán sát,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy làm các công đức,
Đưa đến (chơn) an lạc.
Thế Tôn:
(Thời gian lặng) trôi qua,
Đêm (ngày luôn) di động,
Tuổi tác buổi thanh xuân,
Tiếp tục bỏ chúng ta.
Những ai chịu quán sát,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy bỏ mọi thế lợi,
Tâm hướng cầu tịch tịnh.
V. Bao Nhiêu Phải Cắt Đoạn.
... Đứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Phải cắt đoạn bao nhiêu,
Phải từ bỏ bao nhiêu,
Tu tập thêm bao nhiêu,
Vượt qua bao trói buộc,
Để được có danh xưng,
Tỷ‑kheo vượt bộc lưu?
Thế Tôn:
Phải cắt đoạn đến năm,
Phải từ bỏ đến năm,
Tu tập thêm năm pháp (lực),
Vượt qua năm trói buộc,
Để được có danh xưng,
Tỷ‑kheo "vượt bộc lưu".
VI. Tỉnh Giác
... Đứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Có bao pháp mê ngủ,
Khi pháp khác tỉnh giác?
Có bao pháp tỉnh giác,
Khi pháp khác mê ngủ?
Có bao nhiêu việc làm
Đưa ta đến trần cấu?
Có bao nhiêu việc làm
Khiến ta được thanh tịnh?
Thế Tôn:
Có năm pháp mê ngủ,
Khi pháp khác tỉnh giác,
Có năm pháp tỉnh giác,
Khi pháp khác mê ngủ.
Chính có năm việc làm
Đưa ta đến trần cấu,
Chính có năm việc làm
Khiến ta được thanh tịnh.
VII. Không Liễu Tri
... Đứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Những ai với các pháp,
Không liễu tri thấu suốt,
Bị hướng dẫn lầm lạc,
Vòng quanh các dị giáo.
Họ mê ngủ triền miên,
Họ không có tỉnh giác,
Nay thật đã đến thời,
Họ cần phải thức tỉnh.
Thế Tôn:
Những ai với các pháp,
Khéo liễu tri sáng suốt,
Không bị dẫn lầm lạc,
Vòng quanh các dị giáo,
Họ chứng Chánh đẳng giác.
Họ liễu tri viên mãn,
Trên đường không thăng bằng,
Họ bước thật thăng bằng.
VIII. Mê Loạn
... Đứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Những ai đối các pháp,
Quá đắm say mê loạn,
Bị hướng dẫn lầm lạc,
Vòng quanh các dị giáo,
Họ mê ngủ triền miên,
Họ không có tỉnh giác,
Nay thật đã đến thời,
Họ cần phải thức tỉnh.
Thế Tôn:
Những ai đối các pháp,
Không đắm say mê loạn,
Không bị dẫn lầm lạc,
Vòng quanh các dị giáo,
Họ chứng Chánh đẳng giác.
Họ liễu tri viên mãn,
Trên đường không thăng bằng,
Họ bước thật thăng bằng.
IX. Mong Muốn Kiêu Mạn
... Đứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Đối vị ưa kiêu mạn,
Ở đây không điều phục,
Không trí tuệ sáng suốt,
Không định tĩnh nhiếp tâm,
Độc thân trú rừng núi,
Sống với tâm phóng dật,
Vị ấy không vượt khỏi,
Sự chi phối ma lực.
Thế Tôn:
Từ bỏ mọi kiêu mạn,
Tâm tư khéo nhiếp định,
Với tâm khéo tư sát,
Giải thoát mọi phiền trược,
Độc thân trú rừng núi (giới),
Với tâm không phóng dật,
Vị ấy vượt thoát khỏi,
Sự chi phối ma lực.
X. Rừng Núi
... Đứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Thường sống trong rừng núi,
Bậc Thánh sống Phạm hạnh,
Một ngày ăn một buổi,
Sao sắc họ thù diệu?
Thế Tôn:
Không than việc đã qua,
Không mong việc sắp tới,
Sống ngay với hiện tại,
Do vậy, sắc thù diệu.
Do mong việc sắp tới,
Do than việc đã qua,
Nên kẻ ngu héo mòn,
Như lau xanh rời cành.
HT Thích Minh Châu
Một thời Thế Tôn ở Xá-vệ, Thắng Lâm, tại vườn ông Cấp Cô Độc. Rồi một vị Thiên, khi đêm đã gần tàn, với nhan sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, vị Thiên ấy bạch Thế Tôn: - Thưa Tôn giả, làm sao Ngài vượt khỏi bộc lưu?
Mục lục
- THIÊN CÓ KỆ
- 1. TƯƠNG ƯNG CHƯ THIÊN
- 2. TƯƠNG ƯNG THIÊN TỬ
- 3. TƯƠNG ƯNG KOSALA
- 4. TƯƠNG ƯNG ÁC MA
- SN 5 - TƯƠNG ƯNG TỶ KHEO NI
- 6. TƯƠNG ƯNG PHẠM THIÊN
- 7. TƯƠNG ƯNG BÀ LA MÔN
- SN 8 - TƯƠNG ƯNG TRƯỞNG LÃO VANGÌSA
- SN 9 - TƯƠNG ƯNG RỪNG
- SN 10 - TƯƠNG ƯNG DẠ XOA
- 11. TƯƠNG ƯNG SAKKA
- THIÊN NHÂN DUYÊN
- 12. TƯƠNG ƯNG NHÂN DUYÊN
- SN 13 - TƯƠNG ƯNG MINH KIẾN
- 14. TƯƠNG ƯNG GIỚI
- 15. TƯƠNG ƯNG VÔ THỈ
- SN 16 - TƯƠNG ƯNG KASSAPA
- 17. TƯƠNG ƯNG LỢI ĐẮC CUNG KÍNH
- 18. TƯƠNG ƯNG RÀHULA
- 19. TƯƠNG ƯNG LAKKHANA
- SN 20 - TƯƠNG ƯNG THÍ DỤ
- SN 21 - TƯƠNG ƯNG TỶ KHEO
- THIÊN UẨN
- 22. TƯƠNG ƯNG UẨN
- A. Năm Mươi Kinh Căn Bản
- B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa
- C. Năm Mươi Kinh Sau
- 23. TƯƠNG ƯNG RÀDHA
- 24. TƯƠNG ƯNG KIẾN
- SN 25 - TƯƠNG ƯNG NHẬP
- SN 26 - TƯƠNG ƯNG SANH
- SN 27 - TƯƠNG ƯNG PHIỀN NÃO
- SN 28 - TƯƠNG ƯNG SÀRIPUTTA
- SN 29 - TƯƠNG ƯNG LOÀI RỒNG
- SN 30 - TƯƠNG ƯNG KIM XÍ ĐIỂU
- SN 31 - TƯƠNG ƯNG CÀN THÁT BÀ
- SN 32 - TƯƠNG ƯNG THẦN MÂY
- SN 33 - TƯƠNG ƯNG VACCHAGOTA
- SN 34 - TƯƠNG ƯNG THIỀN
- 22. TƯƠNG ƯNG UẨN
- THIÊN SÁU XỨ
- 35. TƯƠNG ƯNG SÁU XỨ
- Phần Một - Năm Mươi Kinh Thứ Nhất
- Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai
- Phần Ba - Năm Mươi Kinh Thứ Ba
- Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư
- 36. TƯƠNG ƯNG THỌ
- 37. TƯƠNG ƯNG NỮ NHÂN
- SN 38 - TƯƠNG ƯNG JAMBUKHÀDAKA
- SN 39 - TƯƠNG ƯNG SÀMANDAKA
- SN 40 - TƯƠNG ƯNG MOGGALÀNA
- SN 41 - TƯƠNG ƯNG TÂM
- SN 42 - TƯƠNG ƯNG THÔN TRƯỞNG
- 43. TƯƠNG ƯNG VÔ VI
- SN 44 - TƯƠNG ƯNG KHÔNG THUYẾT
- 35. TƯƠNG ƯNG SÁU XỨ
- THIÊN ĐẠI PHẨM
- 45. TƯƠNG ƯNG ĐẠO
- 46. TƯƠNG ƯNG GIÁC CHI
- SN 46.1-10 - PHẨM NÚI
- SN 46.11-20 - PHẨM VỀ BỆNH
- SN 46.21-30 - PHẨM UDÀYI
- SN 46.31-40 - PHẨM TRIỀN CÁI
- SN 46.41-50 - PHẨM CHUYỂN LUÂN
- SN 46.51-56 - PHẨM TỔNG NHIẾP GIÁC CHI
- SN 46.57-66 - PHẨM HƠI THỞ VÔ HƠI THỞ RA
- SN 46.67-76 - PHẨM ĐOẠN DIỆT
- SN 46.77-88 - PHẨM SÔNG HẰNG QUẢNG THUYẾT
- SN 46.89-98 - PHẨM KHÔNG PHÓNG DẬT
- SN 46.99-110 - PHẨM CẦN DÙNG SỨC MẠNH
- SN 46.111-120 - PHẨM TẦM CẦU
- SN 46.121-130 - PHẨM BỘC LƯU
- SN 46.131-142 - PHẨM SÔNG HẰNG QUẢNG THUYẾT
- SN 46.143-152 - PHẨM KHÔNG PHÓNG DẬT (NHIẾP PHỤC THAM)
- SN 46.153-164 - PHẨM CẦN DÙNG SỨC MẠNH(NHIẾP PHỤC THAM)
- SN 46.165-174 - PHẨM TẦM CẦU (NHIẾP PHỤC THAM)
- SN 46.175-184 - PHẨM BỘC LƯU
- 47. TƯƠNG ƯNG NIỆM XỨ
- SN 47.1-10 - PHẨM AMBAPÀLI
- SN 47.11-20 - PHẨM NÀLANDA
- SN 47.21-30 - PHẨM GIỚI TRÚ
- SN 47.31-40 - PHẨM CHƯA TỪNG ĐƯỢC NGHE
- SN 47.41-50 - PHẨM BẤT TỬ
- SN 47.51-62 - PHẨM SÔNG HẰNG RỘNG THUYẾT
- SN 47.63-72 - PHẨM KHÔNG PHÓNG DẬT
- SN 47.73-84 - PHẨM VIỆC LÀM CẦN SỨC MẠNH
- SN 47.85-94 - PHẨM TẦM CẦU
- SN 47.95-104 - PHẨM BỘC LƯU
- 48. TƯƠNG ƯNG CĂN
- SN 48.1-10 - PHẨM THANH TỊNH
- SN 48.11-20 - PHẨM CÓ PHẦN YẾU HƠN (MUDUTARAVAGGO)
- SN 48.21-30 - PHẨM SÁU CĂN
- SN 48.31-40 - PHẨM LẠC CĂN
- SN 48.41-50 - PHẨM VỀ GIÀ
- SN 48.51-60 - PHẨM THỨ SÁU
- SN 48.61-70 - PHẨM GIÁC PHẦN
- SN 48.71-82 - PHẨM SÔNG HẰNG RỘNG THUYẾT
- SN 48.83-92 - PHẨM KHÔNG PHÓNG DẬT
- SN 48.93-104 - PHẨM LÀM VIỆC CẦN SỨC MẠNH
- SN 48.105-114 - PHẨM TẦM CẦU
- SN 48.115-124 - PHẨM BỘC LƯU
- SN 48.125-136 - PHẨM SÔNG HẰNG RỘNG THUYẾT
- SN 48.137-146 - PHẨM KHÔNG PHÓNG DẬT
- SN 48.147-158 - PHẨM VIỆC LÀM CẦN SỨC MẠNH
- SN 48.159-168 - PHẨM TẦM CẦU
- SN 48.169-178 - PHẨM BỘC LƯU
- 49. TƯƠNG ƯNG CHÁNH CẦN
- 50. TƯƠNG ƯNG LỰC
- SN 50.1-12 - PHẨM SÔNG HẰNG RỘNG THUYẾT
- SN 50.13-22 - PHẨM KHÔNG PHÓNG DẬT
- SN 50.23-34 - PHẨM SỨC MẠNH (VIỄN LY)
- SN 50.35-44 - PHẨM TẦM CẦU
- SN 50.45-54 - PHẨM BỘC LƯU
- SN 50.55-66 - PHẨM SÔNG HẰNG RỘNG THUYẾT
- SN 50.67-76 - PHẨM KHÔNG PHÓNG DẬT
- SN 50.77-88 - PHẨM LỰC
- SN 50.89-98 - PHẨM TẦM CẦU
- SN 50.99-108 - PHẨM BỘC LƯU
- 51. TƯƠNG ƯNG NHƯ Ý TÚC
- 52. TƯƠNG ƯNG ANURUDDHA
- 53. TƯƠNG ƯNG THIỀN
- 54. TƯƠNG ƯNG HƠI THỞ VÔ, HƠI THỞ RA
- 55. TƯƠNG ƯNG DỰ LƯU
- 56. TƯƠNG ƯNG SỰ THẬT
- SN 56.1-10 - PHẨM ĐỊNH
- SN 56.11-20 - PHẨM CHUYỂN PHÁP LUÂN
- SN 56.21-30 - PHẨM KOTIGÀMA
- SN 56.31-40 - PHẨM RỪNG SIMSAPÀ
- SN 56.41-50 - PHẨM VỰC THẲM
- SN 56.51-60 - PHẨM CHỨNG ĐẠT
- SN 56.61-70 - PHẨM BÁNH XE LƯỢC THUYẾT
- SN 56.71-80 - PHẨM ÍT NGƯỜI TỪ BỎ
- SN 56.81-90 - PHẨM LÚA GẠO SỐNG RỘNG THUYẾT
- SN 56.91-101 - PHẨM CHÚNG SANH NHIỀU HƠN
- SN 56.102-131 - PHẨM NĂM SANH THÚ