Đại Phẩm › VIII. Chương y phục · Tỳ khưu Indacanda

1. CÂU CHUYỆN VỀ THẦY THUỐC JĪVAKA KOMĀRABHACCA

128. Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, thành Vesālī được phồn thịnh, giàu có, đông dân, nhiều người chen chúc, vật thực dễ dàng, có bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy tòa nhà dài, bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy lầu mái nhọn, bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy công viên, bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy hồ sen, có nàng kỷ nữ Ambapālī xinh đẹp, duyên dáng, yêu kiều, được phú cho làn da đẹp hạng nhất, thiện xảo về múa, hát, đàn, được những người đàn ông có lòng say đắm cầu cạnh, nàng qua đêm (với giá) năm mươi. Và có nàng thành Vesālī càng thêm phần rạng rỡ.

Khi ấy, viên thị trưởng thành Rājagaha đã đi đến Vesālī do công việc cần thiết. Viên thị trưởng thành Rājagaha đã nhìn thấy thành Vesālī là phồn thịnh, giàu có, đông dân, nhiều người chen chúc, vật thực dễ dàng, có bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy tòa nhà dài, bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy lầu mái nhọn, bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy công viên, bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy hồ sen, có nàng kỷ nữ Ambapālī xinh đẹp, duyên dáng, yêu kiều, được phú cho làn da đẹp hạng nhất, thiện xảo về múa, hát, đàn, được những người đàn ông có lòng say đắm cầu cạnh, nàng qua đêm (với giá) năm mươi, và có nàng thành Vesālī càng thêm phần rạng rỡ. Sau đó, khi đã hoàn tất công việc cần làm ấy ở Vesālī, viên thị trưởng thành Rājagaha đã quay về lại thành Rājagaha và đi đến gặp đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, sau khi đến đã nói với đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha điều này:

- Tâu bệ hạ, thành Vesālī là phồn thịnh, giàu có, đông dân, nhiều người chen chúc, vật thực dễ dàng, có bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy tòa nhà dài, bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy lầu mái nhọn, bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy công viên, bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy hồ sen, có nàng kỷ nữ Ambapālī xinh đẹp, duyên dáng, yêu kiều, được phú cho làn da đẹp hạng nhất, thiện xảo về múa, hát, đàn, được những người đàn ông có lòng say đắm cầu cạnh, nàng qua đêm (với giá) năm mươi, và có nàng thành Vesālī càng thêm phần rạng rỡ. Tâu bệ hạ, tốt đẹp thay nếu chúng ta cũng có thể đào tạo thành kỷ nữ.

- Này khanh, như thế thì khanh hãy tìm người con gái tương tợ rồi đào tạo nàng thành kỷ nữ.

Vào lúc bấy giờ, trong thành Rājagaha có người con gái tên Sālavatī là người xinh đẹp, duyên dáng, yêu kiều, được phú cho làn da đẹp hạng nhất. Khi ấy, viên thị trưởng thành Rājagaha đã đào tạo người con gái Sālavatī thành kỷ nữ. Sau đó chẳng bao lâu, nàng kỷ nữ Sālavatī đã trở nên thiện xảo về múa hát đàn, được những người đàn ông có lòng say đắm cầu cạnh, và nàng qua đêm (với giá) một trăm. Sau đó chẳng bao lâu, nàng kỷ nữ Sālavatī đã mang thai. Khi ấy, nàng kỷ nữ Sālavatī đã khởi ý điều này: “Đàn bà mang thai đâu còn được đàn ông ưa thích. Nếu có người biết rằng: ‘Kỷ nữ Sālavatī mang thai’ thì tất cả các người đeo đuổi sẽ bỏ rơi ta. Hay là ta nên cáo bệnh?” Sau đó, nàng kỷ nữ Sālavatī đã bảo người gác cổng rằng:

- Này chú em gác cổng, chớ để bất cứ người đàn ông nào vào. Và ai hỏi ta thì bảo rằng: “Bị bệnh.”

- Thưa cô chủ, xin vâng. Người gác cổng ấy đã đáp lại nàng kỷ nữ Sālavatī.

Sau đó, khi bào thai ấy được phát triển đầy đủ, nàng kỷ nữ Sālavatī đã sanh ra đứa bé trai. Khi ấy, nàng kỷ nữ Sālavatī đã bảo người tớ gái rằng:

- Này em, giờ hãy đặt đứa bé trai này vào trong giỏ đan loại nhỏ rồi mang đi quăng bỏ ở đống rác.

- Thưa cô chủ, xin vâng.

Rồi người tớ gái ấy nghe theo nàng kỷ nữ Sālavatī đã đặt đứa bé trai ấy vào trong giỏ đan loại nhỏ rồi mang đi quăng bỏ ở đống rác.

Vào lúc bấy giờ, có vương tử tên là Abhaya đang đi chầu vua vào sáng sớm đã nhìn thấy đứa bé trai ấy đang bị bầy quạ bu quanh, sau khi nhìn thấy đã hỏi mọi người rằng:

- Này các khanh, vật gì bị bầy quạ bu quanh vậy?

- Thưa ngài, đứa bé trai.

- Này các khanh, còn sống không?

- Thưa ngài, còn sống.

- Này các khanh, như thế thì hãy mang đứa bé trai ấy về hậu cung của chúng ta và giao cho các vú nuôi chăm sóc.

- Thưa ngài, xin vâng.

Rồi những người dân ấy nghe theo vương tử Abhaya đã mang đứa bé trai ấy về hậu cung của vương tử Abhaya rồi giao cho các vú nuôi (nói rằng):

- Các người hãy chăm sóc.

Họ đã đặt tên đứa bé là “Jīvaka” (vì khi vương tử Abhaya hỏi là “Cái gì?” thì mọi người trả lời là “Jīvati” nghĩa là “còn sống”). Và bởi vì “được nuôi dưỡng bởi vương tử” nên đã được đặt tên là “Komārabhacca.”

Sau đó chẳng bao lâu, Jīvaka Komārabhacca đã đạt đến tuổi hiểu biết. Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã đi đến gặp vương tử Abhaya, sau khi đến đã nói với vương tử Abhaya điều này:

- Thưa ngài, ai là mẹ của con, ai là cha của con?

- Này Jīvaka thương, ta cũng không biết mẹ của con; tuy nhiên ta là cha của con vì con đã được ta nuôi dưỡng.

Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã khởi ý điều này: “Không có nghề nghiệp không dễ gì sống nhờ vả vào các gia đình vương giả này, hay là ta nên học lấy nghề nghiệp?”

129. Vào lúc bấy giờ, có người thầy thuốc tiếng tăm lẫy lừng sống ở Takkasilā. Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca không xin phép vương tử Abhaya đã đi đến Takkasilā, tuần tự đã đi đến Takkasilā gặp người thầy thuốc ấy, sau khi đến đã nói với người thầy thuốc ấy điều này:

- Thưa thầy, con muốn học nghề.

- Này Jīvaka mến, như vậy thì con có thể học.

Sau đó, Jīvaka Komārabhacca học nhiều, học nhanh chóng, suy nghiệm chính xác, và điều đã được học thì không quên đi. Sau đó, khi trải qua bảy năm Jīvaka Komārabhacca đã khởi ý rằng: “Ta học nhiều, học nhanh chóng, suy nghiệm chính xác, và điều đã được học thì không quên đi. Và trong khi ta đã học được bảy năm rồi mà đích cuối cùng của nghề này vẫn không được biết đến, vậy thì khi nào đích cuối cùng của nghề này mới được biết đến?” Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã đi đến gặp người thầy thuốc ấy, sau khi đến đã nói với người thầy thuốc ấy điều này:

- Thưa thầy, con học nhiều, học nhanh chóng, suy nghiệm chính xác, và điều đã được học thì không quên đi. Và trong khi con đã học được bảy năm rồi mà đích cuối cùng của nghề này vẫn không được biết đến, vậy thì khi nào đích cuối cùng của nghề này mới được biết đến?

- Này Jīvaka mến, như vậy thì con hãy cầm lấy cái thuổng, đi dạo xung quanh Takkasilā một do tuần, nếu con thấy được bất cứ vật gì không phải là dược phẩm thì hãy đem vật ấy về đây.

- Thưa thầy, xin vâng.

Rồi Jīvaka Komārabhacca nghe theo người thuốc ấy đã cầm lấy cái thuổng, và trong khi đi dạo xung quanh Takkasilā một do tuần, đã không nhìn thấy bất cứ vật gì không phải là dược phẩm. Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã đi đến gặp người thầy thuốc ấy, sau khi đến đã nói với người thầy thuốc ấy điều này:

- Thưa thầy, trong khi đi dạo xung quanh Takkasilā một do tuần con đã không thấy được bất cứ vật gì không phải là dược phẩm.

- Này Jīvaka mến, con đã học xong. Bấy nhiêu đó đã đủ cho cuộc sống của con rồi.

Rồi người thầy thuốc ấy đã trao cho Jīvaka Komārabhacca chút ít (tiền) dự phòng đường xa. Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã nhận lấy chút ít (tiền) dự phòng đường xa rồi ra đi về phía thành Rājagaha. Sau đó, vào khoảng giữa cuộc hành trình, ở Sāketa chút ít (tiền) dự phòng đường xa ấy đã hết. Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã khởi ý điều này: “Những con đường này hoang vắng, ít nước, ít thức ăn, không có (tiền) dự phòng đường xa không phải dễ dàng để đi, hay là ta nên kiếm (tiền) dự phòng đường xa?”