Đại Phẩm › IX. Chương Campā · Tỳ khưu Indacanda

8. GIẢNG GIẢI VỀ CÁC HÀNH SỰ SAI PHÁP, ĐÚNG PHÁP

196. Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu không có tội cần phải được nhìn nhận. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị quở trách vị ấy về việc ấy: “Này đại đức, đại đức đã phạm tội, đại đức có thấy tội ấy không?” Vị ấy đáp như vầy: “Này đại đức, không có tội gì ở tôi để tôi có thể thấy.” Hội chúng phạt án treo vị ấy trong việc không nhìn nhận tội; (như vậy) là hành sự sai Pháp.

Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu không có tội cần phải được sửa đổi. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị quở trách vị ấy về việc ấy: “Này đại đức, đại đức đã phạm tội, đại đức hãy sửa đổi tội ấy.” Vị ấy đáp như vầy: “Này đại đức, không có tội gì ở tôi để tôi có thể sửa đổi.” Hội chúng phạt án treo vị ấy trong việc không sửa chữa lỗi; (như vậy) là hành sự sai Pháp.

Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu không có tà kiến ác cần phải được từ bỏ. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị quở trách vị ấy về việc ấy: “Này đại đức, tri kiến của đại đức là ác xấu, đại đức hãy từ bỏ tà kiến ác ấy.” Vị ấy đáp như vầy: “Này đại đức, không có tà kiến ác gì ở tôi để tôi có thể từ bỏ.” Hội chúng phạt án treo vị ấy trong việc không từ bỏ tà kiến ác; (như vậy) là hành sự sai Pháp.

Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu không có tội cần phải được nhìn nhận, không có tội cần phải được sửa đổi. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị quở trách vị ấy về việc ấy: “Này đại đức, đại đức đã phạm tội, đại đức có thấy tội ấy không? Đại đức hãy sửa đổi tội ấy.” Vị ấy đáp như vầy: “Này đại đức, không có tội gì ở tôi để tôi có thể thấy. Không có tội gì ở tôi để tôi có thể sửa đổi.” Hội chúng phạt án treo vị ấy trong việc không nhìn nhận (tội) hay là trong việc không sửa chữa (lỗi); (như vậy) là hành sự sai Pháp.

Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu không có tội cần phải được nhìn nhận, không có tà kiến ác cần phải được từ bỏ. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị quở trách vị ấy về việc ấy: “Này đại đức, đại đức đã phạm tội, đại đức có thấy tội ấy không? Tri kiến của đại đức là ác xấu, đại đức hãy từ bỏ tà kiến ác ấy.” Vị ấy đáp như vầy: “Này đại đức, không có tội gì ở tôi để tôi có thể thấy. Không có tà kiến ác gì ở tôi để tôi có thể từ bỏ.” Hội chúng phạt án treo vị ấy trong việc không nhìn nhận (tội) hay là trong việc không từ bỏ (tà kiến ác); (như vậy) là hành sự sai Pháp.

Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu không có tội cần phải được sửa đổi, không có tà kiến ác cần phải được từ bỏ. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị quở trách vị ấy về việc ấy: “Này đại đức, đại đức đã phạm tội, đại đức hãy sửa đổi tội ấy. Tri kiến của đại đức là ác xấu, đại đức hãy từ bỏ tà kiến ác ấy.” Vị ấy đáp như vầy: “Này đại đức, không có tội gì ở tôi để tôi có thể sửa đổi. Không có tà kiến ác gì ở tôi để tôi có thể từ bỏ.” Hội chúng phạt án treo vị ấy trong việc không sửa chữa (lỗi) hay là trong việc không từ bỏ (tà kiến ác); (như vậy) là hành sự sai Pháp.

Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu không có tội cần phải được nhìn nhận, không có tội cần phải được sửa đổi, không có tà kiến ác cần phải được từ bỏ. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị quở trách vị ấy về việc ấy: “Này đại đức, đại đức đã phạm tội, đại đức có thấy tội ấy không? Đại đức hãy sửa đổi tội ấy. Tri kiến của đại đức là ác xấu, đại đức hãy từ bỏ tà kiến ác ấy.” Vị ấy đáp như vầy: “Này đại đức, không có tội gì ở tôi để tôi có thể thấy. Không có tội gì ở tôi để tôi có thể sửa đổi. Không có tà kiến ác gì ở tôi để tôi có thể từ bỏ.” Hội chúng phạt án treo vị ấy trong việc không nhìn nhận (tội), hay là trong việc không sửa chữa (lỗi), hay là trong việc không từ bỏ (tà kiến ác); (như vậy) là hành sự sai Pháp.

197. Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu có tội cần phải được nhìn nhận. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị quở trách vị ấy về việc ấy: “Này đại đức, đại đức đã phạm tội, đại đức có thấy tội ấy không?” Vị ấy đáp như vầy: “Này đại đức, đúng vậy, tôi có thấy.” Hội chúng phạt án treo vị ấy trong việc không nhìn nhận tội; (như vậy) là hành sự sai Pháp.

Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu có tội cần phải được sửa đổi. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị quở trách vị ấy về việc ấy: “Này đại đức, đại đức đã phạm tội, đại đức hãy sửa đổi tội ấy.” Vị ấy đáp như vầy: “Này đại đức, đúng vậy, tôi sẽ sửa đổi.” Hội chúng phạt án treo vị ấy trong việc không sửa chữa lỗi; (như vậy) là hành sự sai Pháp.

Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu có tà kiến ác cần phải được từ bỏ. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị quở trách vị ấy về việc ấy: “Này đại đức, tri kiến của đại đức là ác xấu, đại đức hãy từ bỏ tà kiến ác ấy.” Vị ấy đáp như vầy: “Này đại đức, đúng vậy, tôi sẽ từ bỏ.” Hội chúng phạt án treo vị ấy trong việc không từ bỏ tà kiến ác; (như vậy) là hành sự sai Pháp.

Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu có tội cần phải được nhìn nhận, có tội cần phải được sửa đổi. ...(như trên)... có tội cần phải được nhìn nhận, có tà kiến ác cần phải được từ bỏ. ...(như trên)... có tội cần phải được sửa đổi, có tà kiến ác cần phải được từ bỏ. ...(như trên)... có tội cần phải được nhìn nhận, có tội cần phải được sửa đổi, có tà kiến ác cần phải được từ bỏ. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị quở trách vị ấy về việc ấy: “Này đại đức, đại đức đã phạm tội, đại đức có thấy tội ấy không? Đại đức hãy sửa đổi tội ấy. Tri kiến của đại đức là ác xấu, đại đức hãy từ bỏ tà kiến ác ấy.” Vị ấy đáp như vầy: “Này đại đức, đúng vậy, tôi có thấy. Đúng vậy, tôi sẽ sửa đổi. Đúng vậy, tôi sẽ từ bỏ.” Hội chúng phạt án treo vị ấy trong việc không nhìn nhận (tội), hay là trong việc không sửa chữa (lỗi), hay là trong việc không từ bỏ (tà kiến ác); (như vậy) là hành sự sai Pháp.

198. Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu có tội cần phải được nhìn nhận. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị quở trách vị ấy về việc ấy: “Này đại đức, đại đức đã phạm tội, đại đức có thấy tội ấy không?” Vị ấy đáp như vầy: “Này đại đức, không có tội gì ở tôi để tôi có thể thấy.” Hội chúng phạt án treo vị ấy trong việc không nhìn nhận tội; (như vậy) là hành sự đúng Pháp.

Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu có tội cần phải được sửa đổi. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị quở trách vị ấy về việc ấy: “Này đại đức, đại đức đã phạm tội, đại đức hãy sửa đổi tội ấy.” Vị ấy đáp như vầy: “Không có tội gì ở tôi để tôi có thể sửa đổi.” Hội chúng phạt án treo vị ấy trong việc không sửa chữa lỗi; (như vậy) là hành sự đúng Pháp.

Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu có tà kiến ác cần phải được từ bỏ. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị quở trách vị ấy về việc ấy: “Này đại đức, tri kiến của đại đức là ác xấu, đại đức hãy từ bỏ tà kiến ác ấy.” Vị ấy đáp như vầy: “Không có tà kiến ác gì ở tôi để tôi có thể từ bỏ.” Hội chúng phạt án treo vị ấy trong việc không từ bỏ tà kiến ác; (như vậy) là hành sự đúng Pháp.

Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu có tội cần phải được nhìn nhận, có tội cần phải được sửa đổi. ...(như trên)... có tội cần phải được nhìn nhận, có tà kiến ác cần phải được từ bỏ. ...(như trên)... có tội cần phải được sửa đổi, có tà kiến ác cần phải được từ bỏ. ...(như trên)... có tội cần phải được nhìn nhận, có tội cần phải được sửa đổi, có tà kiến ác cần phải được từ bỏ. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị quở trách vị ấy về việc ấy: “Này đại đức, đại đức đã phạm tội, đại đức có thấy tội ấy không? Đại đức hãy sửa đổi tội ấy. Tri kiến của đại đức là ác xấu, đại đức hãy từ bỏ tà kiến ác ấy.” Vị ấy đáp như vầy: “Này đại đức, không có tội gì ở tôi để tôi có thể thấy. Không có tội gì ở tôi để tôi có thể sửa đổi. Không có tà kiến ác gì ở tôi để tôi có thể từ bỏ.” Hội chúng phạt án treo vị ấy trong việc không nhìn nhận (tội), hay là trong việc không sửa chữa (lỗi), hay là trong việc không từ bỏ (tà kiến ác); (như vậy) là hành sự đúng Pháp.