Đại Phẩm › III. Chương vào mùa mưa · Tỳ khưu Indacanda

10. CÂU CHUYỆN VỀ ĐẠI ĐỨC UPANANDA CON TRAI DÒNG SĀKYA. GIẢNG GIẢI VỀ MÙA (AN CƯ) MƯA THỜI ĐIỂM TRƯỚC

221. Vào lúc bấy giờ, chỗ cư trú mùa mưa của đức vua Pasenadi xứ Kosala đã được đại đức Upananda con trai dòng Sākya (Thích Ca) hứa hẹn cho thời điểm trước. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vào khoảng giữa đường vị ấy đã nhìn thấy hai trú xứ có nhiều y. Vị ấy đã khởi ý điều này: “Hay là ta nên sống mùa (an cư) mưa ở hai trú xứ này, như thế có nhiều y sẽ được phát sanh đến ta?” Vị ấy đã sống mùa (an cư) mưa ở hai trú xứ ấy. Đức vua Pasenadi xứ Kosala phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Tại sao ngài đại đức Upananda con trai dòng Sākya sau khi hứa hẹn chỗ cư trú mùa mưa của chúng tôi lại nuốt lời? Không phải rằng đức Thế Tôn bằng nhiều phương thức đã khiển trách việc nói láo và khen ngợi việc tránh xa sự nói láo hay sao?

Các tỳ khưu đã nghe được đức vua Pasenadi xứ Kosala phàn nàn, phê phán, chê bai.
Các tỳ khưu ít ham muốn ...(như trên)..., các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao đại đức Upananda con trai dòng Sākya sau khi hứa hẹn chỗ cư trú mùa mưa của đức vua Pasenadi xứ Kosala lại nuốt lời? Không phải rằng đức Thế Tôn bằng nhiều phương thức đã khiển trách việc nói láo và khen ngợi việc tránh xa sự nói láo hay sao?

Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại đức Upananda con trai dòng Sākya rằng:

- Này Upananda, nghe nói ngươi sau khi hứa hẹn chỗ cư trú mùa mưa của đức vua Pasenadi xứ Kosala lại nuốt lời, có đúng không vậy?

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

- Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi sau khi hứa hẹn chỗ cư trú mùa mưa của đức vua Pasenadi xứ Kosala lại nuốt lời? Này kẻ rồ dại, không phải rằng ta bằng nhiều phương thức đã khiển trách việc nói láo và khen ngợi việc tránh xa sự nói láo hay sao?
Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)...

Sau khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:

- Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu hứa hẹn cho thời điểm trước. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vào khoảng giữa đường vị ấy nhìn thấy hai trú xứ có nhiều y. Vị ấy khởi ý như vầy: “Hay là ta nên sống mùa (an cư) mưa ở hai trú xứ này, như thế có nhiều y sẽ được phát sanh đến ta?” Vị ấy sống mùa (an cư) mưa ở hai trú xứ ấy. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy thời điểm trước không được ghi nhận và tội tác ác ở sự hứa hẹn.

Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu hứa hẹn cho thời điểm trước. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ Uposatha ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Rồi không phải vì công việc cần thiết, vị ấy ra đi ngay ngày hôm ấy. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy thời điểm trước không được ghi nhận và tội tác ác ở sự hứa hẹn.

Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu hứa hẹn cho thời điểm trước. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ Uposatha ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Rồi do công việc cần thiết, vị ấy ra đi ngay ngày hôm ấy. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy thời điểm trước không được ghi nhận và tội tác ác ở sự hứa hẹn.

Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu hứa hẹn cho thời điểm trước. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ Uposatha ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Vị ấy sau khi sống hai ba ngày rồi ra đi không phải vì công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy thời điểm trước không được ghi nhận và tội tác ác ở sự hứa hẹn.

Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu hứa hẹn cho thời điểm trước. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ Uposatha ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Vị ấy sau khi sống hai ba ngày rồi ra đi do công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy thời điểm trước không được ghi nhận và tội tác ác ở sự hứa hẹn.

Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu hứa hẹn cho thời điểm trước. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ Uposatha ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Vị ấy sau khi sống hai ba ngày rồi ra đi bởi công việc có thể giải quyết trong bảy ngày. Vị ấy vượt quá (thời hạn) bảy ngày ấy. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy thời điểm trước không được ghi nhận và tội tác ác ở sự hứa hẹn.

Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu hứa hẹn cho thời điểm trước. ...(như trên)...
Vị ấy sau khi sống hai ba ngày rồi ra đi bởi công việc có thể giải quyết trong bảy ngày. Vị ấy thực hiện việc quay trở về trong (thời hạn) bảy ngày ấy. Này các tỳ khưu, thời điểm trước của vị tỳ khưu ấy được ghi nhận và vô tội ở sự hứa hẹn.

Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu hứa hẹn cho thời điểm trước. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ Uposatha ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Bảy ngày trước ngày lễ Pavāraṇā, vị ấy ra đi do công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy có thể trở lại chỗ cư trú ấy hoặc không thể trở lại. Này các tỳ khưu, thời điểm trước của vị tỳ khưu ấy được ghi nhận và vô tội ở sự hứa hẹn.

Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu hứa hẹn cho thời điểm trước. Vị ấy sau khi đi đến chỗ cư trú ấy, thực hiện lễ Uposatha, và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Rồi không phải vì công việc cần thiết, vị ấy ra đi ngay ngày hôm ấy. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy thời điểm trước không được ghi nhận và tội tác ác ở sự hứa hẹn.

Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu hứa hẹn cho thời điểm trước. Vị ấy sau khi đi đến chỗ cư trú ấy, thực hiện lễ Uposatha, và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Rồi do công việc cần thiết, vị ấy ra đi ngay ngày hôm ấy. ...(như trên)... Vị ấy sau khi sống hai ba ngày rồi ra đi không phải vì công việc cần thiết. ...(như trên)... Vị ấy sau khi sống hai ba ngày rồi ra đi do công việc cần thiết. ...(như trên)... Vị ấy sau khi sống hai ba ngày rồi ra đi bởi công việc có thể giải quyết trong bảy ngày. Vị ấy vượt quá (thời hạn) bảy ngày ấy. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy thời điểm trước không được ghi nhận và tội tác ác ở sự hứa hẹn.

...(như trên)... Vị ấy sau khi sống hai ba ngày rồi ra đi bởi công việc có thể giải quyết trong bảy ngày. Vị ấy thực hiện việc quay trở về trong (thời hạn) bảy ngày ấy. Này các tỳ khưu, thời điểm trước của vị tỳ khưu ấy được ghi nhận và vô tội ở sự hứa hẹn.

Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu hứa hẹn cho thời điểm trước. Vị ấy sau khi đi đến chỗ cư trú ấy, thực hiện lễ Uposatha, và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Bảy ngày trước ngày lễ Pavāraṇā, vị ấy do công việc cần thiết rồi ra đi. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy có thể trở lại chỗ cư trú ấy hoặc không thể trở lại. Này các tỳ khưu, thời điểm trước của vị tỳ khưu ấy được ghi nhận và vô tội ở sự hứa hẹn.