Bộ Phân Tích › 16. Trí Phân Tích › Phần xiển minh · HT Tịnh Sự

XIỂN MINH ĐỀ THEO MƯỜI LOẠI

839. Ở đây, thế nào là như thật trí của đức Như Lai biết nguyên lý là nguyên lý, phi nguyên lý là phi nguyên lý?

Ở đây một điều phi lý vô duyên cớ như điều nói hạng kiến cụ túc cố chấp hữu vi pháp là trường tồn; đức Như Lai biết rõ rằng nguyên lý đó không xảy ra. Còn một sự kiện này xảy ra như điều mà hạng phàm phu cố chấp hữu vi pháp là trường tồn, thì Ngài biết rõ rằng nguyên lý đó có xảy ra.

Một điều phi lý vô duyên cớ như điều nói hạng kiến cụ túc cố chấp hữu vi pháp là an lạc; Ngài biết rõ rằng nguyên lý đó không xảy ra. Còn một sự kiện này xảy ra như điều mà hạng phàm phu cố chấp hữu vi pháp là an lạc; thì Ngài biết rõ rằng nguyên lý đó có xảy ra.

Một điều vô lý vô duyên cớ như điều nói hạng kiến cụ túc cố chấp mọi pháp là hữu ngã; Ngài biết rõ rằng nguyên lý đó không xảy ra. Còn một sự kiện này xảy ra như điều mà hạng phàm phu cố chấp mọi pháp là hữu ngã; thì Ngài biết rõ rằng nguyên lý đó xảy ra.

Một điều vô lý vô duyên cớ như điều nói hạng kiến cụ túc có thể giết mẹ; Ngài biết rõ rằng nguyên lý đó không xảy ra. Còn một sự kiện này xảy ra như điều mà hạng phàm phu có thể giết mẹ, thì Ngài biết rõ rằng nguyên lý đó có xảy ra.

Một điều vô lý vô duyên cớ như điều nói hạng kiến cụ túc có thể giết cha... (trùng)... có thể giết vị A‑la‑hán... (trùng)... có thể trích máu đức Như Lai bằng tâm sân... (trùng)... có thể chia rẽ Tăng... (trùng)... có thể y chỉ đạo sư khác... (trùng)... có thể sanh kiếp thứ tám; Ngài biết rõ rằng nguyên lý đó không xảy ra. Còn một sự kiện này xảy ra như điều mà hạng phàm phu có thể sanh kiếp thứ tám; thì Ngài biết rõ rằng nguyên lý đó có xảy ra.

Một điều vô lý vô duyên cớ như điều nói trong một thế giới có hai vị A‑la‑hán Chánh Đẳng Giác xuất hiện cùng một lúc; Ngài biết rõ rằng nguyên lý đó không xảy ra. Còn một sự kiện này xảy ra như điều mà trong một thế giới chỉ có thể có một vị A‑la‑hán Chánh Đẳng Giác xuất hiện; thì Ngài biết rõ rằng nguyên lý đó xảy ra.

Một điều vô lý vô duyên cớ như điều nói trong một thế giới có thể có hai vị Chuyển Luân vương xuất hiện cùng một lúc; Ngài biết rõ rằng nguyên lý đó không xảy ra. Còn một sự kiện này xảy ra như điều mà trong một thế giới chỉ có thể có một vị Chuyển Luân vương xuất hiện; thì Ngài biết rõ rằng nguyên lý đó có xảy ra.

Một điều vô lý vô duyên cớ như điều nói nữ nhân có thể là bậc A‑la‑hán Chánh Đẳng Giác; Ngài biết rõ rằng nguyên lý đó không xảy ra. Còn một sự kiện này xảy ra như điều mà nam nhân có thể thành bậc A‑la‑hán Chánh Đẳng Giác; thì Ngài biết rõ rằng nguyên lý đó có xảy ra.

Một điều vô lý vô duyên cớ như điều nói nữ nhân có thể thành bậc Chuyển Luân vương; Ngài biết rõ rằng nguyên lý đó không xảy ra. Còn một sự kiện này xảy ra như điều mà nam nhân có thể thành vị Chuyển Luân vương; thì Ngài biết rõ rằng nguyên lý đó có xảy ra.

Một điều vô lý vô duyên cớ như điều nói nữ nhân có thể làm Đế Thích, có thể làm Thiên ma, có thể làm Phạm Thiên; Ngài biết rõ rằng nguyên lý đó không xảy ra. Còn một sự kiện này xảy ra như điều mà nam nhân có thể làm Đế Thích, có thể làm Thiên ma, có thể làm Phạm Thiên; thì Ngài biết rõ rằng nguyên lý đó có xảy ra.

Một điều vô lý vô duyên cớ như điều nói rằng quả dị thục của thân ác hạnh có thể sanh lên tốt đẹp, khả hỷ, khả ý; Ngài biết rõ rằng nguyên lý đó không xảy ra. Còn một sự kiện này xảy ra như điều mà quả dị thục của thân ác hạnh có thể sanh lên không tốt đẹp, không khả hỷ, không khả ý; thì Ngài biết rõ rằng nguyên lý đó có xảy ra.

Một điều vô lý vô duyên cớ như điều nói rằng quả dị thục của khẩu ác hạnh, của ý ác hạnh có thể sanh lên tốt đẹp, khả hỷ, khả ý; Ngài biết rõ rằng nguyên lý đó không xảy ra. Còn một sự kiện này xảy ra như điều mà quả dị thục của khẩu ác hạnh, của ý ác hạnh có thể sanh lên là không tốt đẹp, không khả hỷ, không khả ý; thì Ngài biết rõ rằng nguyên lý đó có xảy ra.

Một điều vô lý vô duyên cớ như điều nói rằng quả dị thục của thân thiện hạnh có thể sanh lên là không tốt đẹp, không khả hỷ, không khả ý; Ngài biết rõ rằng nguyên lý đó không xảy ra. Còn một sự kiện này xảy ra như điều mà quả dị thục của khẩu thiện hạnh, của ý thiện hạnh có thể sanh lên là tốt đẹp, khả hỷ, khả ý; thì Ngài biết rõ rằng nguyên lý đó có xảy ra.

Một điều vô lý vô duyên cớ như điều nói người có thân ác hạnh, do nhân đó, do duyên ấy, khi thân hoại mệnh chung có thể sanh vào thiện thú, thiện giới; Ngài biết rõ rằng nguyên lý đó không xảy ra. Còn một sự kiện này xảy ra như điều mà người có thân ác hạnh, do nhân ấy, do duyên ấy, khi thân hoại mệnh chung có thể sanh vào khổ cảnh, ác thú, đọa xứ, địa ngục; thì Ngài biết rõ rằng nguyên lý đó có xảy ra.

Một điều vô lý vô duyên cớ như điều nói người có khẩu ác hạnh, ý ác hạnh, do nhân ấy, do duyên ấy, khi thân hoại mệnh chung được sanh về thiện thú, thiện giới; Ngài biết rõ rằng nguyên lý đó không xảy ra. Còn một sự kiện này xảy ra như điều mà người có khẩu ác hạnh, ý ác hạnh, do nhân ấy, do duyên ấy, khi thân hoại mệnh chung có thể sanh vào khổ cảnh, ác thú, đọa xứ, địa ngục; thì Ngài biết rõ rằng nguyên lý ấy có xảy ra.

Một điều vô lý vô duyên cớ như điều nói người có khẩu thiện hạnh, ý thiện hạnh, do nhân ấy, do duyên ấy, khi thân hoại mệnh chung bị sanh vào khổ cảnh, ác thú, đọa xứ, địa ngục; Ngài biết rõ rằng nguyên lý đó không xảy ra. Còn một sự kiện này xảy ra như điều mà người có khẩu thiện hạnh, có ý thiện hạnh, do nhân đó, do duyên đó, khi thân hoại mệnh chung được sanh về thiện thú, thiện giới; thì Ngài biết rõ rằng nguyên lý đó xảy ra.

Ở đây trí tuệ là sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến biết rằng: Những pháp nào sanh ra có nhân có duyên của chúng thì những pháp ấy gọi là nguyên lý, những pháp nào sanh ra không có nhân, không có duyên của chúng thì những pháp ấy gọi là phi nguyên lý. Đây là như thật trí của đức Như Lai biết nguyên lý là nguyên lý, phi nguyên lý là phi nguyên lý.

840. Ở đây, thế nào là như thật trí của đức Như Lai hiểu quả dị thục của các nghiệp thọ trì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại theo nguyên nhân?

Ở đây, đức Như Lai biết rõ rằng: Có một số ác nghiệp thọ trì bị trở ngại bởi sanh thú thuận lợi mà không trổ quả, có một số ác nghiệp thọ trì bị trở ngại bởi sanh y thuận lợi mà không trổ quả; có một số ác nghiệp thọ trì bị trở ngại bởi thời kỳ thuận lợi mà không trổ quả, có một số ác nghiệp thọ trì bị trở ngại bởi hành vi thuận lợi mà không trổ quả; có một số ác nghiệp thọ trì khi gặp phải Sanh thú bất lợi thì trổ quả, có một số ác nghiệp thọ trì khi gặp phải sanh y bất lợi thì trổ quả, có một số ác nghiệp thọ trì khi gặp phải thời kỳ bất lợi thì trổ quả; có một số ác nghiệp thọ trì khi gặp phải hành vi bất lợi thì trổ quả. Có một số thiện nghiệp thọ trì bị trở ngại bởi sanh thú bất lợi mà không trổ quả, có một số thiện nghiệp thọ trì bị trở ngại bởi sanh y bất lợi mà không trổ quả, có một số thiện nghiệp thọ trì bị trở ngại bởi thời kỳ bất lợi mà không trổ quả, có một số thiện nghiệp thọ trì bị trở ngại bởi hành vi bất lợi mà không trổ quả; có một số thiện nghiệp thọ trì khi gặp phải sanh thú thuận lợi thì trổ quả, có một số thiện nghiệp thọ trì khi gặp phải sanh y thuận lợi thì trổ quả, có một số thiện nghiệp thọ trì khi gặp phải thời kỳ thuận lợi thì trổ quả, có một số thiện nghiệp thọ trì khi gặp phải hành vi thuận lợi thì trổ quả.

Trí tuệ nào là sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến trong các nghiệp đó, đây là như thật trí của đức Như Lai hiểu quả dị thục của các nghiệp thọ trì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại theo nguyên nhân.

841. Ở đây, thế nào là như thật trí của đức Như Lai hiểu hành lộ dẫn đến mọi sanh thú?

Ở đây, đức Như Lai biết rõ con đường này, hành lộ này dẫn đến địa ngục; biết rõ con đường này, hành lộ này dẫn đến bàng sanh; biết rõ con đường này, hành lộ này dẫn đến ngạ quỷ; biết rõ con đường này, hành lộ này dẫn đến cõi người; biết rõ con đường này, hành lộ này dẫn đến cõi trời; biết rõ con đường này, hành lộ này dẫn đến Níp Bàn.

Trí tuệ nào là sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến trong các hành lộ đó. Đây là như thật trí của đức Như Lai biết hành lộ dẫn đến mọi sanh thú.

842. Ở đây, thế nào là như thật trí của đức Như Lai hiểu thế gian đa dạng bản chất, dị biệt bản chất?

Ở đây, đức Như Lai biết rõ uẩn dị biệt, biết rõ xứ dị biệt, biết rõ giới dị biệt, biết rõ thế gian đa dạng bản chất, dị biệt bản chất.

Trí tuệ nào là sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến trong sự dị biệt đó. Đây gọi là như thật trí của đức Như Lai hiểu thế gian đa dạng bản chất, dị biệt bản chất.

843. Ở đây, thế nào là như thật trí của đức Như Lai hiểu khuynh hướng dị biệt của chúng sanh?

Ở đây, đức Như Lai biết rõ có những chúng sanh khuynh hướng hạ liệt, có những chúng sanh khuynh hướng cao thượng; các chúng sanh có khuynh hướng hạ liệt thường giao thiệp, cộng tác, hầu cận với những chúng sanh có khuynh hướng hạ liệt, còn những chúng sanh có khuynh hướng cao thượng hay giao thiệp, cộng tác, hầu cận với những chúng sanh có khuynh hướng cao thượng.

Trong thời quá khứ cũng thế, các chúng sanh có khuynh hướng hạ liệt thường giao thiệp, cộng tác, hầu cận với những chúng sanh có khuynh hướng hạ liệt, còn những chúng sanh có khuynh hướng cao thượng hay giao thiệp, cộng tác, hầu cận với những chúng sanh có khuynh hướng cao thượng.

Trong thời vị lai cũng vậy, các chúng sanh có khuynh hướng hạ liệt thường giao thiệp, cộng tác, hầu cận với những chúng sanh có khuynh hướng hạ liệt, còn những chúng sanh có khuynh hướng cao thượng hay giao thiệp, cộng tác, hầu cận với những chúng sanh có khuynh hướng cao thượng.

Trí tuệ nào là sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến trong các khuynh hướng đó. Đây gọi là như thật trí của đức Như Lai hiểu khuynh hướng dị biệt của chúng sanh.

844. Ở đây, thế nào là như thật trí của đức Như Lai hiểu thượng hạ căn của chúng sanh khác của người khác?

Ở đây, đức Như Lai biết rõ sở chấp của chúng sanh; biết rõ tiềm miên; biết rõ sở hành; biết rõ khuynh hướng; biết rõ chúng sanh ít trần lao, nhiều trần lao, lợi căn, độn căn, thiện hành tướng, ác hành tướng, dị giáo hóa, nan giáo hóa, hữu phần, vô phần.

Sở chấp của chúng sanh là thế nào?

Là các chúng sanh chấp theo hữu kiến hoặc phi hữu kiến như vầy, cho rằng: "thế gian tồn tại" hay thế gian không tồn tại "thế gian hữu biên" hay "thế gian vô biên" hay "linh hồn là đó thể xác là đó" hay "linh hồn là khác thể xác là khác" hay "Như Lai còn sau khi chết" hay "Như Lai không còn sau khi chết" hay "Như Lai còn cũng không còn sau khi chết" hoặc giả mà có được tín ngưỡng hợp lý hoặc có sự hiểu như thật về các pháp duyên khởi y tương sinh. Đây gọi là sở chấp của chúng sanh.

Tiềm miên của chúng sanh là thế nào?

Là bảy pháp tiềm miên như dục ái tiềm miên, phẫn uất tiềm miên, ngã mạn tiềm miên, tà kiến tiềm miên, hoài nghi tiềm miên, hữu ái tiềm miên, vô minh tiềm miên.

Ở đời, chỗ mà sắc khả ái, sắc khả hỷ thì ở đây ái tiềm miên ngủ ngầm theo chúng sanh tại đấy. Ở đời, chỗ mà sắc bất khả ái, sắc bất khả hỷ thì ở đấy phẫn uất tiềm miên ngủ ngầm theo chúng sanh. Như thế thì vô minh xảy ra nơi hai pháp này; về ngã mạn, tà kiến và hoài nghi thì nên hiểu cũng là sanh chung với vô minh ấy. Đây gọi là tiềm miên của chúng sanh.

Sở hành của chúng sanh là thế nào?

Là phúc hành, phi phúc hành, bất động hành thuộc địa vức hy thiểu hay địa vức đáo đại. Đây là sở hành của chúng sanh.

Khuynh hướng của chúng sanh là thế nào?

Là có những chúng sanh khuynh hướng hạ liệt, có những chúng sanh có khuynh hướng cao thượng; các chúng sanh có khuynh hướng hạ liệt thường giao thiệp, cộng tác, hầu cận với những chúng sanh có khuynh hướng hạ liệt, còn những chúng sanh có khuynh hướng cao thượng hay giao thiệp, cộng tác, hầu cận với những chúng sanh có khuynh hướng cao thượng.

Trong thời quá khứ cũng thế, các chúng sanh có khuynh hướng hạ liệt thường giao thiệp, cộng tác, hầu cận với những chúng sanh có khuynh hướng hạ liệt, còn những chúng sanh có khuynh hướng cao thượng hay giao thiệp, cộng tác, hầu cận với những chúng sanh có khuynh hướng cao thượng.

Trong thời vị lai cũng vậy, các chúng sanh có khuynh hướng hạ liệt thường giao thiệp, cộng tác, hầu cận với những chúng sanh có khuynh hướng hạ liệt, còn những chúng sanh có khuynh hướng cao thượng hay giao thiệp, cộng tác, hầu cận với những chúng sanh có khuynh hướng cao thượng.

Các chúng sanh nhiều trần lao ấy là thế nào?

Mười món phiền não như tham, sân, si, ngã mạn, tà kiến, hoài nghi, hôn trầm, phóng dật, vô tàm và vô quý; đối với những chúng sanh nào có mười thứ phiền não này được cấu kết, được phát triển, được phát tấn, được phát huy. Đây gọi là các chúng sanh ấy có nhiều trần lao.

Các chúng sanh ít trần lao ấy là thế nào?

Đối với những chúng sanh nào mà mười món phiền não này không được cấu kết, không được phát triển, không được phát tấn, không được phát huy. Đây gọi là chúng sanh ấy ít trần lao.

Những chúng sanh độn căn ấy là thế nào?

Có năm quyền là tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền và tuệ quyền; đối với những chúng sanh nào mà năm quyền này không được cấu kết, không được phát triển, không được phát tấn, không được phát huy. Đây gọi là những chúng sanh ấy độn căn.

Những chúng sanh lợi căn ấy là thế nào?

Đối với những chúng sanh nào mà năm quyền này được cấu kết, được phát triển, được phát tấn, được phát huy. Đây gọi là những chúng sanh ấy lợi căn.

Các chúng sanh có ác hành tướng ấy là thế nào?

Phàm những chúng sanh nào có sở chấp xấu, tiềm miên xấu, sở hành xấu, khuynh hướng xấu, nhiều trần lao, độn căn. Đây gọi là những chúng sanh có ác hành tướng.

Các chúng sanh có thiện hành tướng ấy là thế nào?

Phàm những chúng sanh nào có sở chấp tốt, sở hành tốt, khuynh hướng tốt, ít trần lao, lợi căn. Đây gọi là những chúng sanh ấy có thiện hành tướng.

Các chúng sanh nan giáo hóa ấy là thế nào?

Phàm những chúng sanh nào có ác hành tướng thì những chúng sanh ấy nan giáo hóa.

Còn những chúng sanh nào có thiện hành tướng, chính những chúng sanh ấy dị giáo hóa.

Các chúng sanh vô phần ấy là thế nào?

Phàm những chúng sanh nào bị nghiệp chướng, bị phiền não chướng, bị quả báo chướng, không có niềm tin, không có ước vọng, thiểu trí, không khả năng dự vào phần chánh cố định trong các thiện pháp. Đây gọi là những chúng sanh ấy vô phần.

Các chúng sanh hữu phần (bhabba) ấy là thế nào?

Phàm những chúng sanh nào không bị nghiệp chướng, không bị quả chướng, có đức tin, có ước vọng, có trí tuệ, có khả năng dự vào phần chánh cố định trong các thiện pháp. Đây gọi là những chúng sanh ấy hữu phần.

Trí tuệ nào là sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến trong các sự đó. Đây là như thật trí của đức Như Lai biết thượng hạ căn của chúng sanh của người khác.

845. Ở đây, thế nào là như thật trí của đức Như Lai hiểu sự ô nhiễm, sự thanh tịnh, sự xuất ly của thiền, giải thoát, định và nhập định?

Nói rằng "thiền giả", có bốn hạng thiền giả như có số thiền giả nhận định khi có đắc cho rằng không đắc, có số thiền giả nhận định khi không đắc cho là có đắc, có số thiền giả nhận định khi có đắc cho là có đắc, có số thiền giả nhận định khi không đắc cho là không đắc. Đây là bốn hạng thiền giả.

Lại có bốn hạng thiền giả khác, như có số thiền giả thiện xảo tâm định trong pháp định mà không thiện xảo nhập thiền trong pháp định, có số thiền giả thiện xảo nhập thiền trong pháp định mà không thiện xảo tâm định trong pháp định, có số thiền giả thiện xảo định trong pháp định cũng thiện xảo nhập thiền trong pháp định, có số thiền giả thiện xảo tâm định trong pháp định cũng không thiện xảo nhập định trong pháp định. Đây là bốn hạng thiền giả.

Nói rằng "thiền", có bốn loại thiền là Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền.

Nói rằng "giải thoát", có tám sự giải thoát như là hành giả hữu sắc thấy rõ các sắc, đây là sự giải thoát thứ nhất; hành giả vô sắc tưởng nội phần thấy rõ các sắc ngoại phần, đây là sự giải thoát thứ hai; vị có khuynh hướng rằng tịnh hảo, đây là sự giải thoát thứ ba; do vượt qua hoàn toàn các sắc tưởng, dập tắt chướng ngại tưởng, không tác ý dị biệt tưởng, nhận rằng "hư không không cùng tột", vị ấy chứng và trú không vô biên xứ, đây là giải thoát thứ tư; sau khi vượt qua hoàn toàn không vô biên xứ, nhận rằng: "thức tâm không cùng tột", vị ấy chứng và trú thức vô biên xứ, đây là sự giải thoát thứ năm; sau khi hoàn toàn vượt qua thức vô biên xứ, nhận rằng "không có chi cả" vị ấy chứng và trú Vô sở hữu xứ, đây là sự giải thoát thứ sáu; sau khi vượt qua hoàn toàn Vô sở hữu xứ, vị ấy chứng và trú phi tưởng phi phi tưởng xứ, đây là sự giải thoát thứ bảy; sau khi vượt qua hoàn toàn phi tưởng phi phi tưởng xứ, vị ấy chứng và trú thiền diệt thọ tưởng; đây là sự giải thoát thứ tám.

Nói rằng "định", có ba loại định tức là định hữu tầm hữu tứ, định vô tầm hữu tứ, định vô tầm vô tứ.

Nói rằng "nhập định", có chín thứ đệ trú nhập định tức là nhập định Sơ thiền, nhập định Nhị thiền, nhập định Tam thiền, nhập định Tứ thiền, nhập định Không vô biên xứ, nhập định Thức vô biên xứ, nhập định Vô sở hữu xứ, nhập định Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nhập định Diệt thọ tưởng.

Nói rằng "sự ô nhiễm", tức là pháp thuộc phần thối thất.

Nói rằng "sự thanh tịnh", tức là pháp thuộc phần thù thắng.

Nói rằng "sự xuất ly", tức là sự trong sạch cũng gọi là xuất ly, mà sự xuất khỏi định nào đó cũng gọi là xuất ly.

Trí tuệ nào là sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến trong mọi pháp đó. Đây gọi là như thật trí của đức Như Lai biết sự ô nhiễm, sự thanh tịnh, sự xuất ly trong thiền, giải thoát, định và nhập định.

846. Ở đây, thế nào là như thật trí của đức Như Lai về túc mạng ký ức?

Ở đây, đức Như Lai nhớ lại đa dạng tiền kiếp như sau: một kiếp, hai kiếp, ba kiếp, bốn kiếp, năm kiếp, mười kiếp, hai mươi kiếp, ba mươi kiếp, bốn mươi kiếp, một trăm kiếp, một ngàn kiếp, trăm ngàn kiếp, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều thành hoại kiếp, nhớ trong kiếp đó ta có tên như vậy, có họ như vậy, có dòng dõi như vậy, có vật thực như vậy, có cảm thọ lạc khổ như vậy, có giới hạn tuổi thọ như vậy; rồi từ kiếp ấy chết đã sanh lại chỗ kia, tại đấy ta có tên như vậy, có họ như vậy, có dòng dõi như vậy, có vật thực như vậy, có cảm thọ lạc khổ như vậy, có giới hạn tuổi thọ như vậy; và từ đó chết sanh lại ở đây... Ngài nhớ lại đa dạng tiền kiếp với nét đại cương và chi tiết như thế. Trí tuệ nào là sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến trong việc đó. Đây là như thật trí của đức Như Lai về túc mạng ký ức.

847. Ở đây, thế nào là như thật trí của đức Như Lai về sự sanh tử của các chúng sanh?

Ở đây, đức Như Lai với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, Ngài thấy rõ các chúng sanh đang tử đang sanh, hiểu rõ các chúng sanh đạt đến hèn hạ, cao sang, đẹp sắc, xấu sắc, thiện thú, ác thú là tùy theo hạnh nghiệp, rằng: Những chúng sanh trưởng thành này hiệp thân ác hạnh, hiệp khẩu ác hạnh, hiệp ý ác hạnh, phỉ báng các Thánh Nhơn, có tà kiến, chấp hành nghiệp tà kiến, những chúng sanh ấy khi thân hoại mệnh chung hằng sanh vào khổ cảnh, ác thú, đọa xứ, địa ngục; hoặc giả những chúng sanh trưởng thành này hiệp thân thiện hạnh, hiệp khẩu thiện hạnh, hiệp ý thiện hạnh, không phỉ báng các Thánh Nhơn, có chánh kiến, chấp hành nghiệp chánh kiến, thì những chúng sanh ấy khi thân hoại mệnh chung hằng sanh về thiện thú, thiên giới; đức Như Lai với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, Ngài thấy rõ chúng sanh đang tử đang sanh, Ngài hiểu rõ chúng sanh đạt đến hèn hạ, cao sang, đẹp sắc, xấu sắc, thiện thú, ác thú tùy theo hạnh nghiệp như thế.

Trí tuệ nào là sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến trong sự kiện đó. Đây là như thật trí của đức Như Lai về sự sanh tử của chúng sanh.

848. Ở đây, thế nào là như thật trí của đức Như Lai về sự đoạn tận các lậu hoặc?

Ở đây, đức Như Lai do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại tự mình thắng tri Vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, sau khi chứng đạt Ngài an trú.

Trí tuệ nào là sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến trong sự kiện đó. Đây là như thật trí của đức Như Lai về sự đoạn tận các lậu hoặc.

Trí tông theo mười loại là như vậy.

Trọn vẹn trí phân tích