Bộ Phân Tích › 16. Trí Phân Tích › Phần xiển minh · HT Tịnh Sự
XIỂN MINH ĐỀ HAI LOẠI
803. Tuệ thiện và vô ký trong ba cõi gọi là tuệ hiệp thế; tuệ trong bốn đạo bốn quả gọi là tuệ siêu thế.
Tất cả tuệ đều gọi là tuệ có thức tri và không có thức tri. Tuệ thiện và vô ký trong ba cõi gọi là tuệ cảnh lậu; tuệ trong bốn đạo bốn quả gọi là tuệ phi cảnh lậu.
Tuệ thiện và vô ký trong ba cõi gọi là tuệ bất tương ưng lậu cảnh lậu; tuệ trong bốn đạo bốn quả gọi là tuệ bất tương ưng lậu phi cảnh lậu.
Tuệ thiện và vô ký trong ba cõi gọi là tuệ cảnh triền; tuệ trong bốn đạo bốn quả gọi là tuệ phi cảnh triền.
Tuệ thiện và vô ký trong ba cõi gọi là tuệ bất tương ưng triền cảnh triền; tuệ trong bốn đạo bốn quả gọi là tuệ bất tương ưng triền phi cảnh triền.
Tuệ thiện và vô ký trong ba cõi gọi là tuệ cảnh phược; tuệ trong bốn đạo bốn quả gọi là tuệ phi cảnh phược.
Tuệ thiện và vô ký trong ba cõi gọi là tuệ bất tương ưng phược cảnh phược; tuệ trong bốn đạo bốn quả gọi là tuệ bất tương ưng phược phi cảnh phược.
Tuệ thiện và vô ký trong ba cõi gọi là tuệ cảnh bộc; tuệ trong bốn đạo bốn quả gọi là tuệ phi cảnh bộc.
Tuệ thiện và vô ký trong ba cõi gọi là tuệ bất tương ưng bộc cảnh bộc; tuệ trong bốn đạo bốn quả gọi là tuệ bất tương ưng bộc phi cảnh bộc.
Tuệ thiện và vô ký trong ba cõi gọi là tuệ cảnh phối; tuệ trong bốn đạo bốn quả gọi là tuệ phi cảnh phối.
Tuệ thiện và vô ký trong ba cõi gọi là tuệ bất tương ưng phối cảnh phối; tuệ trong bốn đạo bốn quả gọi là tuệ bất tương ưng phối phi cảnh phối.
Tuệ thiện và vô ký trong ba cõi gọi là tuệ cảnh cái; tuệ trong bốn đạo bốn quả gọi là tuệ phi cảnh cái.
Tuệ thiện và vô ký trong ba cõi gọi là tuệ bất tương ưng cái cảnh cái; tuệ trong bốn đạo bốn quả gọi là tuệ bất tương ưng cái phi cảnh cái.
Tuệ thiện và vô ký trong ba cõi gọi là tuệ cảnh khinh thị; tuệ trong bốn đạo bốn quả gọi là tuệ phi cảnh khinh thị.
Tuệ thiện và vô ký trong ba cõi gọi là tuệ bất tương ưng khinh thị cảnh khinh thị; tuệ trong bốn đạo bốn quả gọi là tuệ bất tương ưng khinh thị phi cảnh khinh thị.
Tuệ trong quả ba cõi gọi là thành do thủ; tuệ thuộc thiện ba cõi, thuộc vô ký tố trong ba cõi, trong bốn đạo và trong bốn quả gọi là tuệ phi thành do thủ.
Tuệ thuộc thiện và vô ký trong ba cõi gọi là tuệ cảnh thủ; tuệ trong bốn đạo bốn quả gọi là tuệ phi cảnh thủ.
Tuệ thiện và vô ký trong ba cõi gọi là tuệ bất tương ưng thủ cảnh thủ; tuệ trong bốn đạo bốn quả gọi là tuệ bất tương ưng thủ phi cảnh thủ.
Tuệ thiện và vô ký trong ba cõi gọi là tuệ cảnh phiền não; tuệ trong bốn đạo bốn quả gọi là tuệ phi cảnh phiền não.
Tuệ thiện và vô ký trong ba cõi gọi là tuệ bất tương ưng phiền não cảnh phiền não; tuệ trong bốn đạo bốn quả gọi là tuệ bất tương ưng phiền não phi cảnh phiền não.
Tuệ tương ưng tầm gọi là tuệ hữu tầm; tuệ bất tương ưng tầm gọi là tuệ vô tầm.
Tuệ tương ưng tứ gọi là tuệ hữu tứ; tuệ bất tương ưng tứ gọi là tuệ vô tứ.
Tuệ tương ưng hỷ gọi là tuệ hữu hỷ; tuệ bất tương ưng hỷ gọi là tuệ vô hỷ.
Tuệ tương ưng hỷ gọi là tuệ câu hành hỷ; tuệ bất tương ưng hỷ gọi là tuệ phi câu hành hỷ.
Tuệ tương ưng lạc gọi là tuệ câu hành lạc; tuệ bất tương ưng lạc gọi là tuệ phi câu hành lạc.
Tuệ tương ưng xả gọi là tuệ câu hành xả; tuệ bất tương ưng xả gọi là tuệ phi câu hành xả.
Tuệ trong thiện và vô ký dục giới gọi là tuệ dục giới; tuệ sắc giới, tuệ vô sắc giới và tuệ bất hệ thuộc gọi là tuệ phi dục giới.
Tuệ trong thiện và vô ký sắc giới gọi là tuệ sắc giới; tuệ dục giới, tuệ vô sắc giới và tuệ bất hệ thuộc gọi là tuệ phi sắc giới.
Tuệ trong thiện và vô ký vô sắc giới gọi là tuệ vô sắc giới; tuệ dục giới, tuệ sắc giới và tuệ bất hệ thuộc gọi là tuệ phi vô sắc giới.
Tuệ thiện và vô ký trong ba cõi là tuệ hệ thuộc; tuệ trong bốn đạo bốn quả gọi là tuệ bất hệ thuộc.
Tuệ trong bốn đạo bốn quả gọi là tuệ dẫn xuất; tuệ thiện trong ba cõi, dị thục quả trong bốn vức, thuộc vô ký tố trong ba cõi gọi là tuệ phi dẫn xuất.
Tuệ trong bốn đạo gọi là tuệ cố định (cho quả); tuệ thuộc thiện ba cõi, thuộc vô ký tố ba cõi là tuệ phi cố định.
Tuệ thuộc thiện và vô ký trong ba cõi gọi là tuệ hữu thượng; tuệ trong bốn đạo bốn quả gọi là tuệ vô thượng.
Ở đây thế nào là tuệ sanh lợi?
Về mặt thiện trong bốn vức (bhūmi), tuệ vô ký tố của bậc A‑la‑hán trợ sanh ra thông, trợ sanh ra thiền nhập, gọi là tuệ sanh lợi. Về mặt dị thục quả trong bốn vức tuệ vô ký tố của bậc A‑la‑hán nhờ vào thông sanh khởi, nhờ vào thiền nhập sanh khởi, gọi là tuệ lợi sanh.
Trí tông theo hai loại là như vậy.