Bộ Phân Tích › 16. Trí Phân Tích › Phần xiển minh · HT Tịnh Sự
XIỂN MINH ĐỀ BỐN LOẠI
822. Ở đây, thế nào là trí nghiệp sở?
Tuệ nào là sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến hiểu như sau: có quả bố thí, có quả cúng dường, có quả tế tự, có dị thục quả của các nghiệp tốt xấu, có đời này có đời sau, có ân mẹ, có ân cha, có loài hữu tình hóa sanh, có các sa môn bà la môn trong đời đi đúng, thực hành đúng đã tự mình chứng ngộ thắng trí rồi tuyên bố về đời này và đời khác. Đây được gọi là trí nghiệp sở. Ngoại trừ trí đế tùy thuận, còn lại tất cả tuệ thiện cảnh lậu đều là trí nghiệp sở.
Ở đây, thế nào là trí đế tùy thuận?
Trí mà thuận lý thành sự kham nhẫn, tri kiến, xác quyết, cảm nhận, quan sát, kiên trì nghiệm pháp như vầy: Sắc uẩn là vô thường hay thọ uẩn là vô thường hay tưởng uẩn là vô thường hay hành uẩn là vô thường hay thức uẩn là vô thường. Đây được gọi là trí đế tùy thuận.
Tuệ trong bốn đạo gọi là trí thành đạo. Tuệ trong bốn quả gọi là trí thành quả.
823. Trí thành đạo là trí hiểu đối với khổ, trí hiểu đối với khổ tập, trí hiểu đối với khổ diệt, trí hiểu đối với khổ diệt đạo hành.
Ở đây, thế nào là trí đối với khổ?
Tuệ mà sanh ra là sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến, bắt lấy khổ (làm cảnh). Đây được gọi là trí đối với khổ... (trùng)... bắt lấy khổ tập (làm cảnh)... (trùng)... bắt lấy khổ diệt (làm cảnh).
Tuệ mà sanh ra là sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến bắt lấy khổ diệt đạo hành (làm cảnh). Đây được gọi là trí đối với khổ diệt đạo hành.
824. Tuệ trong thiện và vô ký dục giới gọi là tuệ dục giới; tuệ trong thiện và vô ký sắc giới gọi là tuệ sắc giới; tuệ trong thiện và vô ký vô sắc giới gọi là tuệ vô sắc giới; tuệ trong bốn đạo bốn quả gọi là tuệ bất hệ thuộc.
825. Ở đây, thế nào là trí pháp?
Tuệ trong bốn đạo quả gọi là trí pháp.
Một vị suy nghiệm về quá khứ và vị lai nhờ trí pháp này, nhờ thấy, nhờ đắc, nhờ hiểu, nhờ thâm nhập; có tuệ là sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến như vầy "bất cứ những Sa môn hay Bà la môn nào trong thời quá khứ đã thắng tri khổ, thắng tri khổ tập, thắng tri khổ diệt, thắng tri khổ diệt đạo hành thì những vị ấy thật sự đã thắng tri khổ tập này, những vị ấy đã thật sự thắng tri khổ diệt này, những vị ấy đã thật sự thắng tri khổ diệt đạo hành này; bất cứ những Sa môn hay Bà la môn nào trong thời vị lai sẽ thắng tri khổ, thắng tri khổ tập, thắng tri khổ diệt, thắng tri khổ diệt đạo hành thì những vị ấy chắc chắn sẽ thắng tri khổ này, những vị ấy chắc chắn sẽ thắng tri khổ tập này, những vị ấy chắc chắn sẽ thắng tri khổ diệt này, những vị ấy chắc chắn sẽ thắng tri khổ diệt đạo hành này". Đây được gọi là trí loại.
Ở đây, thế nào là trí biến hành?
Ở đây, vị tỳ khưu với nội tâm chú ý hiểu biết tâm của chúng sanh khác, của người khác; tâm hữu tham biết rõ là tâm hữu tham, tâm ly tham biết rõ là tâm ly tham, tâm hữu sân biết rõ là tâm hữu sân, tâm ly sân biết rõ là tâm ly sân, tâm hữu si biết rõ là tâm hữu si, tâm ly si biết rõ là tâm ly si, hay tâm hôn trầm biết rõ tâm hôn trầm, tâm phóng dật biết rõ là tâm phóng dật, tâm đáo đại biết rõ là tâm đáo đại, tâm phi đáo đại biết rõ là tâm phi đáo đại, tâm hữu thượng biết rõ là tâm hữu thượng, tâm vô thượng biết rõ là tâm vô thượng, tâm định tỉnh biết rõ là tâm định tỉnh, tâm bất định tỉnh biết rõ là tâm bất định tỉnh, hay tâm giải thoát biết rõ là tâm giải thoát, tâm phi giải thoát biết rõ là tâm phi giải thoát. Ở đây, có tuệ tri, hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến như vậy. Đây gọi là trí biến hành.
Ngoại trừ trí pháp, trí loại, trí biến hành, tuệ còn lại là trí giả định.
826. Ở đây, thế nào là tuệ đưa đến tích tập không đưa đến tịch diệt?
Tuệ trong thiện dục giới là tuệ đưa đến tích tập không đưa đến tịch diệt.
Tuệ trong bốn đạo là tuệ đưa đến tịch diệt không đưa đến tích tập.
Tuệ trong thiện sắc giới và vô sắc giới là tuệ đưa đến tích tập cũng đưa đến tịch diệt.
Tuệ còn lại là tuệ không đưa đến tích tập không đưa đến tịch diệt.
827. Ở đây, thế nào là tuệ đưa đến yểm ly không đưa đến triệt ngộ?
Sự ly tham trong các dục bằng tuệ mà không thắng tri không thấu triệt Tứ Đế. Đây gọi là tuệ đưa đến yểm ly không đưa đến triệt ngộ.
Vị ấy có ly tham, thắng tri trong các dục bằng tuệ nhưng không thấu triệt Tứ Đế. Đây được gọi là tuệ triệt ngộ nhưng không yểm ly.
Tuệ trong bốn đạo gọi là tuệ đưa đến yểm ly đưa đến triệt ngộ.
Tuệ còn lại là tuệ không đưa đến yểm ly cũng không đưa đến triệt ngộ.
828. Ở đây, thế nào là tuệ thối phần?
Những tác ý tưởng câu hành dục chi phối bậc đắc sơ thiền, gọi là tuệ thối phần. Chánh niệm thuộc khuynh hướng ấy được an lập, gọi là tuệ trú phần. Các tác ý tưởng phi câu hành tầm diễn ra, gọi là tuệ thắng phần. Các tác ý tưởng câu hành yểm ly trí hiệp trợ với ly tham diễn ra, gọi là tuệ quyết trạch phần.
Các tác ý tưởng câu hành tầm chi phối bậc đắc Nhị thiền, gọi là tuệ thối phần. Chánh niệm thuộc khuynh hướng ấy được an lập, gọi là tuệ trú phần. Các tác ý tưởng câu hành xả diễn ra gọi là tuệ thắng phần. Các tác ý tưởng câu hành yểm ly trí hiệp trợ với ly tham diễn ra, gọi là tuệ quyết trạch phần.
Các tác ý tưởng câu hành hỷ chi phối bậc đắc Tam thiền, gọi là tuệ thối phần. Chánh niệm theo khuynh hướng ấy được an lập gọi là tuệ trú phần. Các tác ý tưởng câu hành phi khổ phi lạc thọ được diễn ra gọi là tuệ thắng phần. Các tác ý tưởng câu hành yểm ly trí hiệp trợ với ly tham được diễn ra, gọi là tuệ quyết trạch phần.
Các tác ý tưởng câu hành lạc chi phối bậc đắc Tứ thiền, gọi là tuệ thối phần. Chánh niệm thuộc khuynh hướng ấy được an lập, gọi là tuệ trú phần. Các tác ý tưởng câu hành không vô biên xứ được diễn ra, gọi là tuệ thắng phần. Các tác ý tưởng câu hành yểm ly trí hợp trợ với ly tham được diễn ra, gọi là tuệ quyết trạch phần.
Các tác ý tưởng câu hành sắc pháp chi phối bậc đắc thiền Không vô biên xứ, gọi là tuệ thối phần. Chánh niệm thuộc khuynh hướng ấy được an lập, gọi là tuệ trú phần. Các tác ý tưởng câu hành thức vô biên xứ được diễn ra, gọi là tuệ thắng phần. Các tác ý tưởng câu hành yểm ly trí hợp trợ với ly tham được diễn ra, gọi là tuệ quyết trạch phần.
Các tác ý tưởng câu hành không vô biên xứ chi phối bậc đắc thiền Thức vô biên xứ, gọi là tuệ thối phần. Chánh niệm thuộc khuynh hướng ấy được an lập, gọi là tuệ trú phần. Các tác ý tưởng câu hành vô sở hữu xứ được diễn ra, gọi là tuệ thắng phần. Các tác ý tưởng câu hành yểm ly trí hợp trợ với ly tham được diễn ra, gọi là tuệ quyết trạch phần.
Các tác ý tưởng câu hành thức vô biên xứ chi phối bậc đắc thiền Vô sở hữu xứ, gọi là tuệ thối phần. Chánh niệm theo khuynh hướng ấy được an lập, gọi là tuệ trú phần. Các tác ý tưởng câu hành phi tưởng phi phi tưởng xứ được diễn ra, gọi là tuệ thắng phần. Các tác ý tưởng câu hành yểm ly trí hiệp trợ với ly tham được diễn ra, gọi là tuệ quyết trạch phần.
829. Ở đây, thế nào là bốn tuệ đạt thông?
Tức là nghĩa đạt thông, pháp đạt thông, ngữ đạt thông và biện đạt thông.
Nghĩa đạt thông là sự hiểu thông trong nghĩa lý; Pháp đạt thông là sự hiểu thông trong pháp; Ngữ đạt thông là sự hiểu thông trong lối nói pháp ngữ ở mọi trường hợp; Biện đạt thông là sự hiểu thông về trí tuệ. Đây gọi là bốn đạt thông.
830. Ở đây, thế nào là bốn tiến hành?
Tức là tuệ hành nan đắc trì, tuệ hành nan đắc cấp, tuệ hành dị đắc trì, tuệ hành dị đắc cấp.
Ở đây, thế nào là tuệ hành nan đắc trì?
Tức là trí tuệ, sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến sanh khởi đối với vị đắc định một cách khó khăn khổ sở và thắng tri sự kiện ấy một cách chậm trễ. Đây được gọi là tuệ hành nan đắc trì.
Ở đây, thế nào là tuệ hành nan đắc cấp?
Tức là trí tuệ, sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến sanh khởi đối với vị đắc định một cách khó khăn, khốn khổ nhưng thắng tri sự kiện ấy một cách nhanh chóng. Đây được gọi là tuệ hành nan đắc cấp.
Ở đây, thế nào là tuệ hành dị đắc trì?
Tức là trí tuệ, sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến sanh khởi đối với vị đắc định một cách dễ dàng không khó khăn, nhưng thắng tri sự kiện ấy một cách chậm chạp. Đây được gọi là tuệ hành dị đắc trì.
Ở đây, thế nào là tuệ hành dị đắc cấp?
Tức là trí tuệ, sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến sanh khởi đối với vị đắc định một cách dễ dàng không khó khăn và thắng tri sự kiện ấy một cách nhanh chóng. Đây được gọi là tuệ hành dị đắc cấp.
Đây tức là bốn tiến hành.
831. Ở đây, thế nào là bốn cảnh?
Tức là tuệ hy thiểu cảnh hy thiểu, tuệ hy thiểu cảnh vô lượng, tuệ vô lượng cảnh hy thiểu, tuệ vô lượng cảnh vô lượng.
Ở đây, thế nào là tuệ hy thiểu cảnh hy thiểu?
Tức là trí tuệ, sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến sanh khởi cho bậc không phải dễ dàng đắc định và ít biến mãn đối tượng. Đây được gọi là tuệ hy thiểu cảnh hy thiểu.
Ở đây, thế nào là tuệ hy thiểu cảnh vô lượng?
Tức là trí tuệ, sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến sanh khởi cho bậc không phải dễ dàng đắc định nhưng biến mãn đối tượng một cách rộng rãi. Đây được gọi là tuệ hy thiểu cảnh vô lượng.
Ở đây, thế nào là tuệ vô lượng cảnh hy thiểu?
Tức là trí tuệ, sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến sanh khởi cho bậc dễ dàng đắc định nhưng ít biến mãn đối tượng. Đây được gọi là tuệ vô lượng cảnh hy thiểu.
Ở đây, thế nào là tuệ vô lượng cảnh vô lượng?
Tức là trí tuệ, sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến sanh khởi cho bậc dễ dàng đắc định và biến mãn đối tượng một cách rộng rãi. Đây được gọi là tuệ vô lượng cảnh vô lượng.
Đây là bốn cảnh.
832. Trí thành đạo tức là trí biết lão tử, trí biết lão tử tập khởi, trí biết lão tử đoạn diệt, trí biết lão tử đoạn diệt đạo hành.
Ở đây, thế nào là trí biết lão tử?
Tức trí tuệ, sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến sanh khởi bắt lấy cảnh già chết. Đây được gọi là trí biết lão tử... (trùng)... bắt lấy sự tập khởi của già chết (làm cảnh)... (trùng)... bắt lấy sự đoạn diệt của già chết (làm cảnh).
Trí tuệ, sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến sanh khởi bắt lấy cảnh là đường lối dẫn đến đoạn diệt già chết. Đây được gọi là trí hiểu lão tử đoạn diệt đạo hành.
Trí thành đạo như là trí sanh... (trùng)... trí hữu... (trùng)... trí thủ... (trùng)... trí ái... (trùng)... trí thọ... (trùng)... trí xúc... (trùng)... trí lục nhập... (trùng)... trí danh sắc... (trùng)... trí thức... (trùng)... trí biết các hành, trí biết hành tập khởi, trí biết hành đoạn diệt, trí biết hành diệt đạo lộ.
Ở đây, thế nào là trí biết các hành?
Tức trí tuệ, sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến sanh khởi bắt lấy các hành (làm cảnh).
... (trùng)... bắt lấy sự tập khởi của các hành (làm cảnh).
... (trùng)... bắt lấy sự đoạn diệt của các hành (làm cảnh).
Trí tuệ, sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến sanh khởi bắt lấy cảnh là đường lối dẫn đến đoạn diệt các hành. Đây được gọi là trí hành diệt đạo lộ.
Trí tông phân theo bốn loại là như vậy.