Bộ Phân Tích › 16. Trí Phân Tích › Phần xiển minh · HT Tịnh Sự

XIỂN MINH ĐỀ BA LOẠI

804. Ở đây thế nào là tuệ tư?

Trí đạt được mà không nhờ nghe người khác, tức là trong sự sắp xếp mọi công việc, hay sắp xếp mọi nghề nghiệp, hay sắp xếp mọi tài nghề, hay đế thuận, hay hiểu sắc là vô thường, hay hiểu thọ là vô thường, hay hiểu tưởng là vô thường; hay hiểu hành là vô thường, hay hiểu thức là vô thường, hằng có sự nhẫn nại chính đáng thuận lý, có tri kiến, xác quyết, cảm nhận, quan sát, kiên nhẫn nghiệm pháp. Đây được gọi là tuệ tư.

Ở đây thế nào là tuệ văn?

Trí đạt được nhờ nghe người khác, tức là trong sự sắp xếp mọi công việc, hay sắp xếp mọi nghề nghiệp, hay sắp xếp mọi tài nghề, hay đế thuận, hay hiểu sắc là vô thường, hay hiểu thọ là vô thường, hay hiểu tưởng là vô thường; hay hiểu hành là vô thường, hay hiểu thức là vô thường; hằng có sự nhẫn nại chính đáng thuận lý, có tri kiến xác quyết cảm nhận, quan sát, kiên nhẫn nghiệm pháp. Đây được gọi là tuệ văn.

Tất cả tuệ của bậc nhập thiền gọi là tuệ tu.

805. Ở đây thế nào là tuệ thí thành?

Người bố thí nhờ vào sự thí mà trí tuệ, sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến phát sanh. Đây gọi là tuệ thí thành.

Ở đây thế nào là tuệ giới thành?

Người trì giới nhờ vào giới mà trí tuệ, sự hiểu biết... (trùng)... vô si trạch pháp, chánh kiến phát sanh. Đây gọi là tuệ giới thành.

Còn tất cả tuệ của bậc nhập thiền gọi là tuệ tu thành.

806. Ở đây, thế nào là tuệ tăng thượng giới?

Trí tuệ, sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến mà phát sanh cho bậc thúc liễm trong biệt biệt giải thoát thu thúc giới. Đây gọi là tuệ tăng thượng giới.

Ở đây, thế nào là tuệ tăng thượng tâm?

Trí tuệ, sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến mà phát sanh cho bậc nhập thiền Sắc giới và Vô sắc giới. Đây gọi là tuệ tăng thượng tâm.

Ở đây, thế nào là tuệ tăng thượng trí?

Tuệ trong bốn đạo bốn quả. Đây gọi là tuệ tăng thượng trí.

807. Ở đây, thế nào là sự thông thạo tiến hóa?

Chi là trí tuệ, sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến, hiểu rằng do tác ý những pháp này nên các bất thiện pháp chưa sanh không sanh khởi và các bất thiện pháp đã sanh được đoạn tận; lại do tác ý những pháp này nên các thiện pháp chưa sanh được sanh khởi và các thiện pháp đã sanh được sung mãn, tăng trưởng, lớn mạnh, phát triển. Đây gọi là sự thông thạo tiến hóa.

Ở đây, thế nào là sự thông thạo thối hóa?

Điều đó, cái chi là trí tuệ, sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến, hiểu rằng do tác ý những pháp này nên các thiện pháp chưa sanh không sanh khởi, và các thiện pháp đã sanh bị diệt mất. Lại do tác ý những pháp này mà các bất thiện pháp chưa sanh được sanh khởi và các bất thiện pháp đã sanh được tăng trưởng lớn mạnh. Đây gọi là sự thông thạo thối hóa.

Còn tất cả tuệ rành cách thức trong mọi việc, gọi là sự thông thạo phương chước.

808. Tuệ trong quả bốn vức gọi là tuệ dị thục; tuệ trong thiện bốn vức gọi là tuệ dị thục nhân; tuệ trong vô ký tố ba cõi gọi là tuệ phi dị thục phi dị thục nhân.

809. Tuệ trong quả ba cõi gọi là tuệ thành do thủ cảnh thủ; tuệ thuộc thiện trong ba cõi và thuộc vô ký tố trong ba cõi gọi là tuệ phi thành do thủ cảnh thủ; tuệ trong bốn đạo bốn quả gọi là tuệ phi thành do thủ phi cảnh thủ.

810. Tuệ tương ưng tầm tứ gọi là tuệ hữu tầm hữu tứ; tuệ bất tương ưng tầm mà tương ưng tứ gọi là tuệ vô tầm hữu tứ; tuệ bất tương ưng tầm tứ gọi là tuệ vô tầm vô tứ.

811. Tuệ tương ưng hỷ gọi là tuệ câu hành hỷ; tuệ tương ưng lạc gọi là tuệ câu hành lạc; tuệ tương ưng xả gọi là tuệ câu hành xả.

812. Tuệ thuộc thiện trong ba cõi gọi là tuệ thành nhân tích tập; tuệ trong bốn đạo gọi là tuệ thành nhân tịch diệt; tuệ thuộc quả bốn vức và tuệ thuộc vô ký tố trong ba cõi gọi là tuệ phi nhân tích tập phi nhân tịch diệt.

813. Tuệ trong bốn đạo và ba quả gọi là tuệ hữu học; tuệ trong A‑la‑hán quả cao tột là tuệ vô học; tuệ thuộc thiện trong ba cõi, thuộc quả trong ba cõi và thuộc vô ký tố trong ba cõi là tuệ phi hữu học phi vô học.

814. Tuệ thiện và vô ký dục giới gọi là tuệ hy thiểu; tuệ thiện và vô ký sắc giới cùng vô sắc giới gọi là tuệ đáo đại; tuệ trong bốn đạo bốn quả gọi là tuệ vô lượng.

815. Ở đây, thế nào là tuệ biết cảnh hy thiểu?

Tuệ nào là sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến sanh lên bắt lấy các pháp hy thiểu. Đây được gọi là tuệ biết cảnh hy thiểu.

Ở đây, thế nào là tuệ biết cảnh đáo đại?

Tuệ nào là sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến sanh lên bắt lấy các pháp đáo đại. Đây được gọi là tuệ đáo đại.

Ở đây, thế nào là tuệ biết cảnh vô lượng?

Tuệ nào là sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến sanh lên bắt lấy các pháp vô lượng. Đây được gọi là tuệ biết cảnh vô lượng.

816. Ở đây, thế nào là tuệ có đạo thành cảnh?

Tuệ nào là sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến sanh lên bắt lấy Thánh Đạo (làm cảnh). Đây được gọi là tuệ có đạo thành cảnh.

Tuệ trong bốn đạo gọi là tuệ có đạo thành nhân.

Ở đây, thế nào là tuệ có đạo thành trưởng?

Tuệ nào là sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến sanh lên bắt lấy Thánh đạo làm cảnh trưởng. Đây được gọi là tuệ có đạo thành trưởng.

817. Tuệ thuộc quả trong bốn vức có thể là tuệ sinh tồn, có thể là tuệ chuẩn sanh, nhưng không nên nói là tuệ vị sanh tồn.

Tuệ thuộc thiện trong bốn vức và thuộc vô ký tố trong ba cõi có thể là tuệ sanh tồn, có thể là vị sanh tồn, nhưng không nên nói là tuệ chuẩn sanh.

818. Tất cả tuệ có thể là quá khứ, có thể là vị lai, có thể là hiện tại.

819. Ở đây, thế nào là tuệ biết cảnh quá khứ?

Trí tuệ nào là sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến sanh lên bắt lấy các pháp quá khứ. Đây được gọi là tuệ biết cảnh quá khứ.

Ở đây, thế nào là tuệ biết cảnh vị lai?

Trí tuệ nào là sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến sanh lên bắt lấy các pháp vị lai. Đây được gọi là tuệ biết cảnh vị lai.

Ở đây, thế nào là tuệ biết cảnh hiện tại?

Trí tuệ nào là sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến sanh lên bắt lấy các pháp hiện tại. Đây được gọi là tuệ biết cảnh hiện tại.

820. Tất cả tuệ đều có thể là nội phần, có thể là ngoại phần, có thể là nội ngoại phần.

821. Ở đây, thế nào là tuệ biết cảnh nội phần?

Trí tuệ nào là sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến sanh lên bắt lấy các pháp nội phần. Đây được gọi là tuệ biết cảnh nội phần.

Ở đây, thế nào là tuệ biết cảnh ngoại phần?

Trí tuệ nào là sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến sanh lên bắt lấy các pháp ngoại phần. Đây được gọi là tuệ biết cảnh ngoại phần.

Ở đây, thế nào là tuệ biết cảnh nội ngoại phần?

Trí tuệ nào là sự hiểu biết... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến sanh lên bắt lấy các pháp nội ngoại phần. Đây được gọi là tuệ biết cảnh nội ngoại phần.

Trí tông theo ba loại là như vậy.