Bộ Phân Tích › 16. Trí Phân Tích › Phần xiển minh · HT Tịnh Sự

PHẦN XIỂN MINH

801. Ngũ thức đều là phi nhân, đều là vô nhân, đều là bất tương ưng nhân, đều là hữu duyên, đều là hữu vi, đều là phi sắc, đều là hiệp thế, đều là cảnh lậu, đều là cảnh triền, đều là cảnh phược, đều là cảnh bộc, đều là cảnh phối, đều là cảnh cái, đều là cảnh khinh thị, đều là cảnh thủ, đều là cảnh phiền não, đều là vô ký, đều là hữu cảnh, đều là phi sở hữu tâm, đều là dị thục quả, đều là thành do thủ cảnh thủ, đều là phi phiền toái cảnh phiền não, đều là phi hữu tầm hữu tứ, đều là phi vô tầm hữu tứ, đều là vô tầm vô tứ, đều là phi câu hành hỷ, đều là phi kiến đạo ưng trừ, đều là phi hữu nhân kiến đạo tiến đạo ưng trừ, đều là phi nhân tích tập, đều là phi nhân tịch diệt, đều là phi hữu học phi vô học, đều là hy thiểu, đều là dục giới, đều là phi sắc giới, đều là phi vô sắc giới, đều là hệ thuộc, đều là phi vô hệ thuộc, đều là phi cố định, đều là phi dẫn xuất, đều là sinh tồn, đều là ý thức ứng tri, đều là vô thường, đều là lão chi phối.

802. Nói rằng: "ngũ thức nương vật sinh tồn biết cảnh sinh tồn" tức là sanh lên khi vật đang sanh khi cảnh đang sanh.

Nói rằng "thức nương vật tiền sanh, biết cảnh tiền sanh" tức là thức sanh ra trong khi vật sanh trước trong cảnh sanh trước.

Nói rằng "thức nương vật nội phần, biết cảnh ngoại phần" nghĩa là vật nương của ngũ thức thuộc nội phần, cảnh của thức thuộc ngoại phần.

Nói rằng "thức nương vật bất hoại biết cảnh bất hoại" tức là thức sanh ra trong khi vật chưa diệt mất, trong khi cảnh chưa diệt mất.

Nói rằng "thức nương vật dị biệt, biết cảnh dị biệt" tức là vật và cảnh của nhãn thức là khác, vật và cảnh của nhĩ thức là khác, vật và cảnh của tỷ thức là khác, vật và cảnh của thiệt thức là khác, vật và cảnh của thân thức là khác.

Nói rằng "thức không hưởng cảnh lẫn nhau", cảnh vức của nhãn thức, nhĩ thức không hưởng được; ngược lại cảnh vức của nhĩ thức, nhãn thức không hưởng được; cảnh vức của nhãn thức, tỷ thức không hưởng được; ngược lại cảnh vức của tỷ thức, nhãn thức không hưởng được; cảnh vức của nhãn thức, thiệt thức không hưởng được; ngược lại cảnh vức của thiệt thức, nhãn thức không hưởng được; cảnh vức của nhãn thức, thân thức không hưởng được; ngược lại cảnh vức của thân thức, nhãn thức không hưởng được. Cảnh vức của nhĩ thức... (trùng)... cảnh vức của tỷ thức... (trùng)... cảnh vức của thiệt thức... (trùng)... cảnh vức của thân thức; nhãn thức không hưởng được; ngược lại cảnh vức của nhãn thức, thân thức không hưởng được; cảnh vức của thân thức, nhĩ thức không hưởng được; ngược lại cảnh vức của nhĩ thức, thân thức không hưởng được; cảnh vức của thân thức, tỷ thức không hưởng được; ngược lại cảnh vức của tỷ thức, thân thức không hưởng được; cảnh vức của thân thức, thiệt thức không hưởng được; ngược lại cảnh vức của thiệt thức, thân thức không hưởng được.

Nói rằng "thức sanh ra không phải không nhiếp thâu" tức là thức sanh ra để thu nhiếp.

Nói rằng "thức sanh ra không phải không tác ý" tức là thức sanh lên để tác ý cảnh.

Nói rằng "thức sanh ra không phải không xen lẫn" tức là thức không sanh lên trật tự.

Nói rằng "thức sanh ra không phải không trước không sau" tức là thức không sanh ra trong cùng một sát na.

Nói rằng "thức sanh ra không phải liên tục với nhau" tức là tiếp theo nhãn thức sanh nhĩ thức không sanh lên, ngược lại tiếp theo nhĩ thức sanh nhãn thức không sanh lên, tiếp theo nhãn thức sanh tỷ thức không sanh lên; ngược lại tiếp theo tỷ thức sanh nhãn thức không sanh lên; tiếp theo nhãn thức sanh thiệt thức không sanh lên, ngược lại tiếp theo thiệt thức sanh nhãn thức không sanh lên; tiếp theo nhãn thức sanh thân thức không sanh lên, ngược lại tiếp theo thân thức sanh nhãn thức không sanh lên. Tiếp theo nhĩ thức sanh... (trùng)... tiếp theo tỷ thức sanh... (trùng)... tiếp theo thiệt thức sanh... (trùng)... tiếp theo thân thức sanh nhãn thức không sanh lên; ngược lại tiếp theo nhãn thức sanh thân thức không sanh lên; tiếp theo thân thức sanh nhĩ thức không sanh lên, ngược lại tiếp theo nhĩ thức sanh thân thức không sanh lên; tiếp theo thân thức sanh tỷ thức không sanh lên, ngược lại tiếp theo tỷ thức sanh thân thức không sanh lên; tiếp theo thân thức sanh thiệt thức không sanh lên, ngược lại tiếp theo thiệt thức sanh thân thức không sanh lên.

Nói rằng "năm thức không phải sự suy nghĩ" tức là năm thức chẳng có khai môn hay tư niệm hay chuyên niệm hay tác ý.

Nói rằng "không phải do ngũ thức mà hiểu biết được mọi pháp" tức là không phải hiểu được mọi pháp bằng ngũ thức.

Nói rằng "(thức) chỉ vịn vào một cảnh nào" tức là chỉ có giới hạn trong một cảnh nào đó.

Nói rằng "từ sự liên tục năm thức cũng không hiểu biết được mọi pháp" tức là không thể hiểu biết được mọi pháp bằng ý giới tiếp nối ngũ thức.

Nói rằng "không phải do ngũ thức mà điều mọi oai nghi được" tức là với năm thức không thể hành oai nghi như đi hoặc đứng, hoặc nằm hoặc ngồi.

Nói rằng "từ sự liên tục của năm thức cũng không điều mọi oai nghi được" tức là không thể hành oai nghi đi đứng nằm ngồi bằng ý giới nối tiếp ngũ thức.

Nói rằng "không phải do ngũ thức mà thực hiện thân nghiệp khẩu nghiệp được" tức là không thể tạo thành thân nghiệp khẩu nghiệp bằng ngũ thức được.

Nói rằng "không phải do ngũ thức mà chấp trì pháp thiện, bất thiện được", tức là không thể chấp hành pháp thiện hay bất thiện bằng ngũ thức được.

Nói rằng "từ sự liên tục ngũ thức cũng không chấp trì được pháp thiện hay bất thiện" tức là không thể chấp hành được pháp thiện hay bất thiện bằng ý giới tiếp nối ngũ thức.

Nói rằng "không nhập thiền không xuất thiền được do ngũ thức" tức là với ngũ thức không thể nhập thiền không thể xuất thiền.

Nói rằng "cũng không nhập thiền không xuất thiền được từ sự liên tục ngũ thức" tức là với ý giới nối tiếp ngũ thức không thể nhập thiền không thể xuất thiền.

Nói rằng "không tử không sanh bằng ngũ thức" tức là với ngũ thức không chết được, không tái sanh được.

Nói rằng "cũng không tử không sanh được từ sự liên tục năm thức" tức là không thể chết không thể tái sanh bằng ý giới nối tiếp năm thức.

Nói rằng "không ngủ không thức không chiêm bao được do ngũ thức" tức là với năm thức không thể ngủ, không thể thức, không thể chiêm bao.

Nói rằng "cũng không ngủ không thức, không chiêm bao từ sự liên tục năm thức" tức là với ý giới tiếp nối ngũ thức không thể ngủ; không thể thức, không thể chiêm bao được. Tuệ giải theo căn nguyên đích xác là như vậy. Như vầy là phần trí Tông phân theo một loại.