Bộ Phân Tích › 7. Niệm Xứ Phân Tích › Niệm Xứ Phân tích theo Kinh · HT Tịnh Sự
XIỂN MINH QUÁN TÂM
445. Vị tỳ khưu sống năng quán tâm đối với tâm nội phần là sao?
Ở đây, vị tỳ khưu tâm có tham, biết rõ là tâm ta có tham; hay tâm ly tham biết rõ là tâm ta ly tham; tâm có sân biết rõ là tâm ta có sân; hay tâm ly sân biết rõ là tâm ta ly sân; tâm có si biết rõ là tâm ta có si; hay tâm ly si biết rõ là tâm ta ly si; tâm hôn trầm biết rõ là tâm ta hôn trầm; hay tâm phóng dật biết rõ là tâm ta phóng dật; tâm đáo đại biết rõ là tâm ta đáo đại; tâm không đáo đại biết rõ là tâm ta không đáo đại, tâm hữu thượng biết rõ là tâm ta hữu thượng; hay tâm vô thượng biết rõ là tâm ta vô thượng; tâm định tỉnh biết rõ là tâm ta định tỉnh; hay tâm không định tỉnh biết rõ là tâm ta không định tỉnh; tâm giải thoát biết rõ là tâm ta giải thoát; hay tâm chưa giải thoát biết rõ là tâm ta chưa giải thoát. Vị ấy áp dụng, tu tập, làm sung mãn, nhận định chuẩn xác theo ấn tướng đó, vị ấy sau khi đã áp dụng, tu tập, làm sung mãn, nhận định chuẩn xác theo ấn tướng đó, mới chú tâm vào tâm ngoại phần.
446. Vị tỳ khưu sống năng quán tâm với tâm ngoại phần là sao?
Ở đây, tâm của người khác có tham vị tỳ khưu biết rõ là tâm của người nầy có tham, hay tâm của người khác có ly tham vị ấy biết rõ là tâm của người nầy ly tham; tâm của người khác có sân vị ấy biết rõ là tâm của người nầy có sân, hay tâm của người khác có ly sân vị ấy biết rõ là tâm của người nầy ly sân; tâm của người khác có si vị ấy biết rõ là tâm của người nầy có si, hay tâm của người khác có ly si vị ấy biết rõ là tâm của người nầy ly si; tâm của người khác hôn trầm vị ấy biết rõ là tâm của người nầy hôn trầm; tâm của người khác phóng dật vị ấy biết rõ là tâm của người nầy phóng dật; tâm của người khác đáo đại vị ấy biết rõ là tâm của người nầy đáo đại, hay tâm của người khác không đáo đại vị ấy biết rõ là tâm của người nầy không đáo đại; tâm của người khác hữu thượng vị ấy biết rõ là tâm của người nầy hữu thượng; tâm của người khác vô thượng vị ấy biết rõ là tâm của người nầy vô thượng, tâm của người khác định tỉnh vị ấy biết rõ là tâm của người nầy định tỉnh; hay tâm của người khác không định tỉnh vị ấy biết rõ là tâm của người nầy không định tỉnh; tâm của người khác giải thoát vị ấy biết rõ là tâm của người nầy giải thoát; hay tâm của người khác chưa giải thoát. Vị ấy biết rõ là tâm của người nầy chưa giải thoát. Vị ấy áp dụng, tu tập, làm sung mãn, nhận định chuẩn xác theo ấn tướng đó; vị ấy sau khi đã áp dụng, tu tập, làm sung mãn, nhận định chuẩn xác theo ấn tướng đó, mới chú tâm vào tâm nội ngoại phần.
447. Vị tỳ khưu sống năng quán tâm đối với tâm nội ngoại phần là sao?
Ở đây, vị tỳ khưu biết rõ tâm có tham là tâm có tham, biết rõ tâm ly tham là tâm ly tham, biết rõ tâm có sân là tâm có sân, biết rõ tâm ly sân là tâm ly sân, biết rõ tâm có si là tâm có si, biết rõ tâm ly si là tâm ly si, biết rõ tâm hôn trầm là tâm hôn trầm, biết rõ tâm phóng dật là tâm phóng dật, biết rõ tâm đáo đại là tâm đáo đại, biết rõ tâm không đáo đại là tâm không đáo đại, biết rõ tâm hữu thượng là tâm hữu thượng, biết rõ tâm vô thượng là tâm vô thượng, biết rõ tâm định tỉnh là tâm định tỉnh, biết rõ tâm không định tỉnh là tâm không định tỉnh, biết rõ tâm giải thoát là tâm giải thoát, biết rõ tâm chưa giải thoát là tâm chưa giải thoát. Như vậy là vị tỳ khưu sống năng quán tâm với tâm nội ngoại phần, nhiệt tâm, tỉnh giác, ức niệm, diệt trừ tham ưu ở đời.
448. Nói rằng: bậc "năng quán"... (trùng)... nói rằng: "sống"... (trùng)... nói rằng bậc "nhiệt tâm"... (trùng)... nói rằng: bậc "tỉnh giác"... (trùng)... nói rằng: bậc "ức niệm"... (trùng)... nói rằng: "diệt trừ tham ưu ở đời".
Ở đây, đời là thế nào?
Đời chính là tâm nầy, hay đời là năm thủ uẩn. Đây gọi là đời.
Ở đây, tham là thế nào?
Cái chi là sự tham luyến, tham đắm... (trùng)...
tham đắm của tâm. Đây gọi là tham.
Ở đây, ưu là thế nào?
Cái chi là sự bất an thuộc về tâm, sự khó chịu thuộc về tâm, trạng thái của cảm thọ bất an khó chịu sanh từ tâm xúc, sự cảm giác bất an, khó chịu sanh từ tâm xúc. Đây gọi là ưu.
Tham nầy và ưu nầy là như thế, bị hạn chế trong đời nầy, bị tẩy trừ, yên lặng, vắng lặng, tịnh chỉ, dập tắt, diệt tắt, đình chỉ, cấm chỉ, kiệt quệ, tàn rụi, tận diệt, bởi lẽ ấy được nói rằng: "Diệt trừ tham ưu ở đời".
Dứt xiển minh quán tâm