Bộ Phân Tích › 7. Niệm Xứ Phân Tích › Niệm Xứ Phân tích theo Kinh · HT Tịnh Sự
XIỂN MINH QUÁN PHÁP
449. Vị tỳ khưu sống năng quán pháp đối với các pháp nội phần là sao?
Ở đây, vị tỳ khưu nội tâm có dục vọng vị ấy biết rõ là nội tâm ta có dục vọng, nội tâm không có dục vọng vị ấy biết rõ là nội tâm ta không có dục vọng; sự sanh khởi dục vọng chưa sanh khởi như thế nào vị ấy biết rõ thế ấy, sự đoạn trừ dục vọng đã sanh khởi như thế nào vị ấy biết rõ thế ấy, khi dục vọng đã trừ sẽ không sanh trong tương lai như thế nào vị ấy biết rõ thế ấy.
Nội tâm có sân độc... (trùng)... nội tâm có hôn thụy... (trùng)... nội tâm có trạo hối... (trùng)... nội tâm có hoài nghi vị ấy biết rõ là nội tâm ta có hoài nghi, nội tâm không có hoài nghi vị ấy biết rõ là nội tâm ta không có hoài nghi; sự sanh khởi hoài nghi chưa sanh khởi như thế nào, vị ấy biết rõ thế ấy; sự đoạn trừ hoài nghi đã sanh khởi như thế nào, vị ấy biết rõ thế ấy; khi hoài nghi đã trừ sẽ không sanh trong tương lai như thế nào, vị ấy biết rõ thế ấy.
Nội tâm có niệm giác chi, vị ấy biết rõ là nội tâm ta có niệm giác chi; Nội tâm không có niệm giác chi, vị ấy biết rõ là nội tâm ta không có niệm giác chi; sự sanh khởi niệm giác chi chưa sanh khởi như thế nào, vị ấy biết rõ như thế ấy; sự bổ túc phát triển niệm giác chi đã sanh khởi như thế nào, vị ấy biết rõ như thế ấy.
Nội tâm có trạch pháp giác chi... (trùng)... nội tâm có cần giác chi... (trùng)... nội tâm có hỷ giác chi... (trùng)... nội tâm có tịnh giác chi... (trùng)... nội tâm có định giác chi... (trùng)... nội tâm có xả giác chi, vị ấy biết rõ là nội tâm ta có xả giác chi; nội tâm không có xả giác chi, vị ấy biết rõ là nội tâm ta không có xả giác chi; sự sanh khởi xả giác chi chưa sanh khởi như thế nào, vị ấy biết rõ như thế ấy; sự bổ túc phát triển xả giác chi đã sanh khởi như thế nào, vị ấy biết rõ như thế ấy.
Vị ấy áp dụng, tu tập, làm sung mãn, nhận định chuẩn xác theo ấn tướng đó; vị ấy sau khi đã áp dụng, tu tập, làm sung mãn, nhận định chuẩn xác theo ấn tướng đó, mới chú tâm vào các pháp ngoại phần.
450. Vị tỳ khưu sống năng quán pháp đối với các pháp ngoại phần là sao?
Ở đây, vị tỳ khưu đối với người khác có dục vọng, vị ấy biết rõ là người nầy có dục vọng; đối với người khác không có dục vọng, vị ấy biết rõ là người nầy không có dục vọng; sự sanh khởi dục vọng chưa sanh khởi như thế nào, vị ấy biết rõ như thế ấy; sự đoạn trừ dục vọng đã sanh khởi như thế nào, vị ấy biết rõ như thế ấy; khi dục vọng đã trừ sẽ không sanh trong tương lai như thế nào, vị ấy biết rõ như thế ấy.
Đối với người khác có sân độc... (trùng)... đối với người khác có hôn thụy... (trùng)... đối với người khác có trạo hối... (trùng)... đối với người khác có hoài nghi, vị ấy biết rõ là người nầy có hoài nghi; đối với người khác không có hoài nghi, vị ấy biết rõ là người nầy không có hoài nghi; sự sanh khởi hoài nghi chưa sanh khởi như thế nào, vị ấy biết rõ thế ấy; sự đoạn trừ hoài nghi đã sanh khởi như thế nào, vị ấy biết rõ thế ấy; khi hoài nghi đã trừ sẽ không sanh trong tương lai như thế nào, vị ấy biết rõ thế ấy.
Đối với người khác có niệm giác chi, vị ấy biết rõ là người nầy có niệm giác chi; đối với người khác không có niệm giác chi, vị ấy biết rõ là người nầy không có niệm giác chi; sự sanh khởi niệm giác chi chưa sanh khởi như thế nào, vị ấy biết rõ như thế ấy; sự bổ túc phát triển niệm giác chi đã sanh khởi như thế nào, vị ấy biết rõ như thế ấy.
Đối với người khác có trạch pháp giác chi... (trùng)... đối với người khác có cần giác chi... (trùng)... đối với người khác có hỷ giác chi... (trùng)... đối với người khác có tịnh giác chi... (trùng)... đối với người khác có định giác chi... (trùng)... đối với người khác có xả giác chi, vị ấy biết rõ là người nầy có xả giác chi; đối với người khác không có xả giác chi, vị ấy biết rõ là người nầy không có xả giác chi; sự sanh khởi xả giác chi chưa sanh khởi như thế nào, vị ấy biết rõ như thế ấy; sự bổ túc phát triển xả giác chi đã sanh khởi như thế nào, vị ấy biết rõ như thế ấy. Vị ấy áp dụng, tu tập, làm sung mãn, nhận định chuẩn xác theo ấn tướng đó, vị ấy sau khi đã áp dụng, tu tập, làm sung mãn nhận định chuẩn xác theo ấn tướng đó, mới chú tâm vào các pháp nội ngoại phần.
451. Vị tỳ khưu sống năng quán pháp đối với các pháp nội ngoại phần là sao?
Ở đây, vị tỳ khưu đang có dục vọng biết rõ là có dục vọng, không có dục vọng vị ấy biết rõ là không có dục vọng, sự sanh khởi dục vọng chưa sanh khởi như thế nào, vị ấy biết rõ thế ấy; sự đoạn trừ dục vọng đã sanh khởi như thế nào, vị ấy biết rõ thế ấy; khi dục vọng đã trừ sẽ không sanh trong tương lai như thế nào, vị ấy biết rõ thế ấy. Đang có sân độc... (trùng)... đang có hôn thụy... (trùng)... đang có trạo hối... (trùng)... đang có hoài nghi, vị ấy biết rõ là có hoài nghi; không có hoài nghi, vị ấy biết rõ là không có hoài nghi; sự sanh khởi hoài nghi chưa sanh khởi như thế nào, vị ấy biết rõ thế ấy; sự đoạn trừ hoài nghi đã sanh khởi như thế nào, vị ấy biết rõ thế ấy; khi hoài nghi đã trừ sẽ không sanh trong tương lai như thế nào, vị ấy biết rõ thế ấy.
Đang có niệm giác chi, vị ấy biết rõ là có niệm giác chi; không có niệm giác chi, vị ấy biết rõ là không có niệm giác chi; sự sanh khởi niệm giác chi chưa sanh khởi như thế nào, vị ấy biết rõ thế ấy; sự bổ túc phát triển niệm giác chi đã sanh khởi như thế nào, vị ấy biết rõ thế ấy.
Đang có trạch pháp giác chi... (trùng)... Đang có cần giác chi... (trùng)... Đang có hỷ giác chi... (trùng)... Đang có tịnh giác chi... (trùng)... Đang có định giác chi... (trùng)... Đang có xả giác chi, vị ấy biết rõ là có xả giác chi; không có xả giác chi, vị ấy biết rõ là không có xả giác chi; sự sanh khởi xả giác chi chưa sanh khởi như thế nào, vị ấy biết rõ thế ấy; sự bổ túc phát triển xả giác chi đã sanh khởi như thế nào, vị ấy biết rõ thế ấy.
Như vầy là vị tỳ khưu sống năng quán pháp đối với các pháp nội ngoại phần, nhiệt tâm, tỉnh giác, ức niệm, diệt trừ tham ưu ở đời.
452. Nói rằng: "bậc năng quán" ở đây sự năng quán là thế nào?
Cái chi là sự hiểu biết, hiểu rõ... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến. Đây gọi là sự năng quán, vị dự nhập, biến nhập, dự đáo, mãn đáo, dự đắc, hoàn đắc, thành đạt với sự năng quán nầy, bởi lẽ ấy mới gọi là bậc năng quán.
453. Nói rằng "sống", tức là cử động, xử sự, trông nom, duy trì, sinh sống, hành động, trú ngụ, bởi lẽ ấy gọi là sống.
454. Nói rằng: "bậc nhiệt tâm". Ở đây sự nhiệt tâm là thế nào?
Cái chi là sự cần cố thuộc về tâm... (trùng)... chánh tinh tấn. Đây gọi là sự nhiệt tâm. Vị dự nhập, biến nhập, dự đáo, mãn đáo, dự đắc, hoàn đắc, thành đạt với sự nhiệt tâm nầy, bởi lẽ ấy mới gọi là bậc nhiệt tâm.
455. Nói rằng: "bậc tỉnh giác". Ở đây sự tỉnh giác là thế nào?
Cái chi là sự hiểu biết, hiểu rõ... (trùng)... vô si, trạch pháp, chánh kiến. Đây gọi là sự tỉnh giác. Vị dự nhập, biến nhập, dự đáo, mãn đáo, dự đắc, hoàn đắc, thành đạt với sự tỉnh giác nầy, bởi lẽ ấy mới gọi là bậc tỉnh giác.
456. Nói rằng: "bậc ức niệm". Ở đây, sự ức niệm là thế nào?
Cái chi là sự nhớ đến, sự tùy niệm... (trùng)...
chánh niệm. Đây gọi là sự ức niệm. Vị dự nhập, biến nhập, dự đáo, mãn đáo, dự đắc, hoàn đắc, thành đạt với sự ức niệm nầy, bởi lẽ ấy mới gọi là bậc ức niệm.
457. Nói rằng: "diệt trừ tham ưu ở đời".
Ở đây, đời là thế nào?
Đời chính là các pháp đó, hay đời là năm thủ uẩn. Đây gọi là đời.
Ở đây, tham là thế nào?
Cái chi là sự tham luyến, tham đắm... (trùng)...
tham đắm của tâm. Đây gọi là tham.
Ở đây, ưu là thế nào?
Cái chi là sự bất an thuộc về tâm, sự khó chịu thuộc về tâm, trạng thái của cảm thọ bất an khó chịu sanh từ tâm xúc, sự cảm giác bất an khó chịu sanh từ tâm xúc. Đây gọi là ưu.
Tham nầy và ưu nầy là như thế, bị hạn chế trong đời nầy, bị tẩy trừ, yên lặng, vắng lặng, tịnh chỉ, dập tắt, diệt tắt, đình chỉ, cấm chỉ, kiệt quệ, tàn rụi, tận diệt; bởi lẽ ấy được nói rằng: "Diệt trừ tham ưu ở đời".
Dứt xiển minh quán pháp
Dứt phần phân tích theo kinh