Bộ Phân Tích › 3. Giới Phân Tích · HT Tịnh Sự

Giới Phân tích theo Kinh

114. Sáu giới là địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, hư không giới và thức giới.

115. Ở đây, địa giới là thế nào?

Địa giới có hai thứ là nội phần và ngoại phần.

Ở đây thế nào là địa giới nội phần?

Chất gì là sự cứng sượng, tình trạng thô rắn, tình trạng cứng sượng, trạng thái cứng sượng thuộc phần trong, phần riêng, thành sắc nội do thủ, như là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, mạng mỡ, dạ dày, phổi, ruột già, ruột non, vật thực mới, phân hay là có chất nào khác là sự thô rắn, tình trạng chai sượng, tình trạng cứng sượng, trạng thái cứng sượng thuộc phần trong, phần riêng, thành sắc nội do thủ. Đây gọi là địa giới nội phần.

Ở đây thế nào là địa giới ngoại phần?

Chất gì là sự thô rắn, tình trạng chai sượng, tình trạng cứng sượng, trạng thái cứng sượng thuộc bên ngoài, thành sắc ngoại phi do thủ, như là sắt, đồng, chì trắng, chì đen, bạch kim, ngọc trai, ngọc ước, ngọc lưu ly, xa cừ, cẩm thạch, san hô, bạc, vàng, ngọc ru‑bi, ngọc thạch, cỏ, cây, sỏi, gạch, đất, đá, núi, hoặc có chất nào khác là sự thô rắn, tình trạng chai sượng, tình trạng cứng sượng, trạng thái cứng sượng thuộc bên ngoài, thành sắc ngoại phi do thủ. Đây gọi là địa giới ngoại phần.

Địa giới nội phần và địa giới ngoại phần gồm lại, gom chung thành một phần. Đây gọi là địa giới.

116. Ở đây, thủy giới là thế nào?

Thủy giới có hai loại là nội phần và ngoại phần.

Ở đây, thế nào là thủy giới nội phần?

Chất gì là sự tươm ướt, cách tươm ướt, sự quến dẻo, trạng thái khắn dính của sắc thuộc bên trong, phần riêng, thành sắc nội do thủ, như là mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, dầu da, nước miếng, nước mũi, nước nhớt, nước tiểu, hoặc có thứ nào khác là sự tươm ướt, cách tươm ướt, sự quến dẻo, trạng thái khắn dính của sắc, thuộc bên trong, phần riêng, thành sắc nội do thủ. Đây gọi là thủy giới nội phần.

Ở đây, thế nào là thủy giới ngoại phần?

Chất gì là sự tươm ướt, cách tươm ướt, sự quến dẻo, cách quến dẻo, trạng thái khắn dính của sắc thuộc bên ngoài, thành sắc ngoại phi do thủ, như là vị chất rễ cây, vị chất thân cây, vị chất da cây, vị chất lá cây, vị chất hoa, vị chất trái, sữa tươi, sữa đặc, bơ trong, bơ tươi, dầu, mật ong, đường mía, nước trong đất hay trên hư không, hoặc có chất nào khác là sự tươm ướt, cách tươm ướt, cách quến dẻo, sự quến dẻo, trạng thái khắn dính của sắc thuộc bên ngoài, thành sắc ngoại phi do thủ. Đây gọi là thủy giới ngoại phần.

Thủy giới nội phần và thủy giới ngoại phần gồm lại, gom chung thành một phần. Đây gọi là thủy giới.

117. Ở đây, hỏa giới là thế nào?

Hỏa giới có hai loại là nội phần và ngoại phần.

Ở đây thế nào là hỏa giới nội phần?

Chất gì là sự nóng bỏng, cách nóng bỏng, sự nực nội, cách nực nội, sự ấm áp, cách ấm áp, thuộc bên trong, phần riêng, thành sắc nội do thủ, như là chất mà làm nóng nảy, chất mà làm hao mòn, chất mà làm thiêu hủy và chất mà làm tiêu hóa chất ăn uống, nhai nếm, hoặc có chất nào khác là sự nóng bỏng, cách nóng bỏng, sự nực nội, cách nực nội, sự ấm áp, cách ấm áp thuộc bên trong, phần riêng, thành sắc nội do thủ. Đây gọi là hỏa giới nội phần.

Ở đây, thế nào là hỏa giới ngoại phần?

Chất gì là sự nóng bỏng, cách nóng bỏng, sự nực nội, cách nực nội, sự ấm áp, cách ấm áp, thuộc bên ngoài, thành sắc ngoại phi do thủ, như là lửa củi, lửa đá, lửa cỏ, lửa phân bò, lửa trấu, lửa rác, lửa sấm sét, chất nóng của lửa, chất nóng của mặt trời, chất nóng trong đống gỗ, chất nóng trong đống cỏ, chất nóng trong đống lúa, chất nóng trong đống tro, hoặc có chất nào khác là sự nóng bỏng, cách nóng bỏng, sự nực nội, cách nực nội, sự ấm áp, cách ấm áp thuộc bên ngoài, thành sắc ngoại phi do thủ. Đây gọi là hỏa giới ngoại phần.

Hỏa giới nội phần và hỏa giới ngoại phần gồm lại, gom chung thành một phần. Đây gọi là hỏa giới.

118. Ở đây, phong giới là thế nào?

Phong giới có hai loại là nội phần và ngoại phần.

Ở đây thế nào là phong giới nội phần?

Chất gì là sự thổi phồng, căng phồng, lay động của sắc thuộc bên trong, phần riêng, thành sắc nội do thủ, như là gió thổi lên, gió thổi xuống, gió trong bụng, gió trong ruột, gió khắp chi thể, gió như vũ khí, gió như dao cạo, gió qua tim, hơi thở ra, hơi thở vào, hoặc có chất nào khác là sự thổi phồng, căng phồng, lay động của sắc thuộc bên trong, phần riêng, thành sắc nội do thủ. Đây gọi là phong giới nội phần.

Ở đây thế nào là phong giới ngoại phần?

Chất gì là sự thổi phồng, căng phồng, trạng thái lay động của sắc thuộc bên ngoài, thành sắc ngoại phi do thủ, như là gió đông, gió nam, gió tây, gió bắc, gió cuốn bụi, gió không cuốn bụi, gió lạnh, gió nóng, gió nhỏ, gió lớn, gió độ thấp, gió độ cao, gió do cánh chim, gió do đại bàng, gió do quạt, gió do thổi, hoặc có chất nào khác là sự thổi phồng, căng phồng, trạng thái lay động của sắc bên ngoài, thành sắc ngoài phi do thủ. Đây gọi là phong giới ngoại phần.

Phong giới nội phần và phong giới ngoại phần gồm lại, gom chung thành một phần. Đây gọi là phong giới.

119. Ở đây, hư không giới là thế nào?

Hư không giới có hai thứ là nội phần và ngoại phần.

Ở đây thế nào là hư không giới nội phần?

Cái gì là khoảng trống, hiện tượng khoảng trống, sự trống không, hiện tượng trống không, kẽ hở, hiện tượng kẽ hở, không đụng chạm với máu thịt, thuộc bên trong, phần riêng, thành sắc nội do thủ như là lỗ tai, lỗ mũi, cửa miệng, lỗ nuốt thức ăn uống nhai nếm, chỗ chứa thức ăn uống nhai nếm, đường cho ra thức ăn uống nhai nếm theo phía dưới, hoặc có chi khác là khoảng trống, hiện tượng khoảng trống, sự trống không, hiện tượng trống không, kẽ hở, hiện tượng kẽ hở, không đụng chạm với máu thịt, thuộc phần riêng, bên trong, thành sắc nội do thủ. Đây gọi là hư không giới nội phần.

Ở đây thế nào là hư không giới ngoại phần?

Cái gì là khoảng trống, hiện tượng khoảng trống, sự trống không, hiện tượng trống không, kẽ hở, hiện tượng kẽ hở, không đụng chạm với các sắc đại hiển, thuộc bên ngoài, thành sắc ngoại phi do thủ. Đây gọi là hư không giới ngoại phần.

Hư không giới nội phần và hư không giới ngoại phần gồm lại, gom chung thành một phần. Đây gọi là hư không giới.

120. Ở đây, thức giới là thế nào?

Nhãn thức giới, nhĩ thức giới, tỷ thức giới, thiệt thức giới, thân thức giới, ý thức giới. Đây gọi là thức giới. Đây gọi là sáu giới.

121. Mặt khác, có sáu giới là lạc giới, khổ giới, hỷ giới, ưu giới, xả giới, vô minh giới.

Ở đây thế nào là lạc giới?

Cái chi là sự sãng khoái thuộc về thân, sự dễ chịu thuộc về thân, trạng thái cảm thọ sãng khoái dễ chịu sanh từ thân xúc, sự cảm giác sãng khoái dễ chịu sanh từ thân xúc. Đây gọi là lạc giới.

Ở đây thế nào là hỷ giới?

Cái chi là sự sãng khoái thuộc về tâm, sự dễ chịu thuộc về tâm, trạng thái cảm thọ sãng khoái dễ chịu sanh từ tâm xúc, sự cảm giác sãng khoái dễ chịu sanh từ tâm xúc. Đây gọi là hỷ giới.

Ở đây thế nào là khổ giới?

Cái chi là sự bất an thuộc về thân, sự đau đớn thuộc về thân, trạng thái cảm thọ bất an đau đớn sanh từ thân xúc, sự cảm giác bất an đau đớn sanh từ thân xúc. Đây gọi là khổ giới.

Ở đây, thế nào là ưu giới?

Cái chi là sự bất an thuộc về tâm, sự khó chịu thuộc về tâm, trạng thái cảm thọ bất an khó chịu sanh từ tâm xúc, sự cảm giác bất an, khó chịu sanh từ tâm xúc. Đây gọi là ưu giới.

Ở đây, thế nào là xả giới?

Cái chi là sự không vui không buồn thuộc về tâm, trạng thái cảm thọ phi khổ phi lạc sanh từ tâm xúc, sự cảm thọ phi khổ phi lạc sanh từ tâm xúc. Đây gọi là xả giới.

Ở đây, thế nào là vô minh giới?

Cái chi là sự không biết, không thấy... (trùng)... vô minh then chốt, si là căn bất thiện. Đây gọi là vô minh giới. Đây cũng là sáu giới.

122. Mặt khác, có sáu giới là dục giới, sân giới, hại giới, xuất ly giới, vô sân giới, bất hại giới.

Ở đây, thế nào là dục giới?

Sự nghĩ ngợi tương ưng với dục, sự tầm cầu, sự tư duy, sự chăm chú, sự hướng tâm, đem tâm khắn khít, tà tư duy. Đây gọi là dục giới. Phía dưới tận cùng là địa ngục vô gián, phía trên tột đỉnh là cõi trời Tha Hóa Tự tại, trong khoảng giữa đó có uẩn xứ giới, sự hiện hành ở đấy, hệ thuộc ở đấy, tức sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Đây gọi là dục giới.

Ở đây, thế nào là sân giới?

Sự nghĩ ngợi tương ưng với sân độc, sự tầm cầu... (trùng)...
tà tư duy. Đây gọi là sân giới. Hoặc là sự hiềm khích của tâm trong mười việc hiềm khích, thái độ phẫn nộ, phản kháng, chống đối, giận dữ, giận hờn, tức giận, nóng nảy, ám hại, quyết ám hại sự sân độc của tâm, ý ám hại, sự hiềm hận, thái độ hiềm hận, cách hiềm hận, sự hãm hại, cách hãm hại, thái độ hãm hại, sự sân độc, cách sân độc, thái độ sân độc, sự đối lập, phản đối, hung dữ, lỗ mãng, sự bất bình của tâm. Đây gọi là sân giới.

Ở đây, thế nào là hại giới?

Sự suy nghĩ tương ưng với não hại, sự tầm cầu... (trùng)...
tà tư duy. Đây gọi là hại giới. Trong đời nầy có một số kẻ nhiểu hại chúng sanh bằng phương tiện nào đó như là bằng tay hoặc bằng cục đất, bằng gậy gộc, bằng khí giới, bằng sợi dây; việc như vậy là sự nhiểu nhương, nhiểu hại, hãm hiếp, hãm hại, kích nộ, cừu địch, uy hiếp người khác. Đây gọi là hại giới.

Ở đây, thế nào là xuất ly giới?

Sự nghĩ ngợi tương ưng với xuất ly, sự tầm cầu... (trùng)... chánh tư duy. Đây gọi là xuất ly giới. Tất cả pháp thiện cũng là xuất ly giới.

Ở đây, thế nào là vô sân giới?

Sự nghĩ ngợi tương ưng với vô sân độc, sự tầm cầu... (trùng)... chánh tư duy. Đây gọi là vô sân giới. Sự thân thiện đối với các chúng sanh, hài hòa, thái độ hài hòa, có từ tâm giải thoát. Đây gọi là vô sân giới.

Ở đây, thế nào là bất hại giới?

Sự suy nghĩ tương ưng với bất hại, sự tầm cầu, sự tư duy, sự chăm chú, sự hướng tâm, đem tâm khắn khít, chánh tư duy. Đây gọi là bất hại giới. Sự thương xót đối với các chúng sanh, sự trắc ẩn, thái độ trắc ẩn, có bi tâm giải thoát. Đây gọi là bất hại giới. Đây cũng là sáu giới.

123. Như thế, ba phần sáu giới này gom lại thành một là mười tám giới.

Dứt phần phân theo kinh