Kinh Trung Bộ

MN 1 - KINH PHÁP MÔN CĂN BẢN

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú tại (tụ lạc) Ukkattha, trong rừng Hạnh Phúc, dưới gốc cây Sa‑la vương. Tại chỗ ấy, Thế Tôn gọi các Tỷ‑kheo: "Này các Tỷ‑kheo!".

- "Bạch Thế Tôn", những Tỷ‑kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói: "Này các Tỷ‑kheo. Ta sẽ giảng cho các Người "Pháp môn căn bản tất cả pháp". Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói".

- "Thưa vâng, bạch Thế Tôn", những Tỷ‑kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

Phàm phu:

- Này các Tỷ‑kheo, ở đây, có kẻ phàm phu ít nghe, không được thấy các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không được thấy các bậc Chơn nhân, không thuần thục pháp các bậc Chơn nhân, không tu tập pháp các bậc Chơn nhân, tưởng tri địa đại là địa đại. Vì tưởng tri địa đại là địa đại, người ấy nghĩ đến địa đại, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, người ấy nghĩ: "Địa đại là của ta" - dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri địa đại.

Người ấy tưởng tri thủy đại là thủy đại. Vì tưởng tri thủy đại là thủy đại, người ấy nghĩ đến thủy đại, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với thủy đại, nghĩ đến (tự ngã) như là thủy đại, người ấy nghĩ: "Thủy đại là của ta" - dục hỷ thủy đại. Vì sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri thủy đại.

Người ấy tưởng tri hỏa đại là hỏa đại. Vì tưởng tri hỏa đại là hỏa đại, người ấy nghĩ đến hỏa đại, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với hỏa đại, nghĩ đến (tự ngã) như là hỏa đại, người ấy nghĩ: "Hỏa đại là của ta"-dục hỷ hỏa đại. Vì sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri hỏa đại.

Người ấy tưởng tri phong đại là phong đại. Vì tưởng tri phong đại là phong đại, người ấy nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với phong đại, nghĩ đến (tự ngã) như là phong đại, người ấy nghĩ: "Phong đại là của ta"-dục hỷ phong đại. Vì sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri phong đại.

Người ấy tưởng tri Sanh vật... là Sanh vật
Người ấy tưởng tri chư Thiên... là chư Thiên
Người ấy tưởng tri Sanh chủ... là Sanh chủ
Người ấy tưởng tri Phạm thiên... là Phạm thiên
Người ấy tưởng tri Quang âm thiên... là Quang âm thiên
Người ấy tưởng tri Biến tịnh thiên... là Biến tịnh thiên
Người ấy tưởng tri Quảng quả thiên... là Quảng quả thiên
Người ấy tưởng tri Thắng Giả... là Abhibhù

Người ấy tưởng tri Không vô biên xứ... là Không vô biên xứ
Người ấy tưởng tri Thức vô biên xứ... là Thức vô biên xứ
Người ấy tưởng tri Vô sở hữu xứ... là Vô sở hữu xứ
Người ấy tưởng tri Phi tưởng phi phi tưởng xứ... là Phi tưởng phi phi tưởng xứ

Người ấy tưởng tri sở kiến... là sở kiến
Người ấy tưởng tri sở văn... là sở văn
Người ấy tưởng tri sở tư niệm... là sở tư niệm
Người ấy tưởng tri sở tri... là sở tri

Người ấy tưởng tri đồng nhất... là đồng nhất
Người ấy tưởng tri sai biệt... là sai biệt
Người ấy tưởng tri tất cả... là tất cả

Người ấy tưởng tri Niết‑bàn là Niết‑bàn. Vì tưởng tri Niết‑bàn là Niết‑bàn, người ấy nghĩ đến Niết‑bàn, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Niết‑bàn. Nghĩ đến (tự ngã) như là Niết‑bàn, người ấy nghĩ: "Niết‑bàn là của ta" - dục hỷ Niết‑bàn, Vì sao vậy? Ta nói: Người ấy không liễu tri Niết‑bàn.

Vị hữu học:

Này các Tỷ‑kheo, có Tỷ‑kheo, hữu học tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu vô thượng an ổn khỏi khổ ách. Vị ấy thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng tri địa đại là địa đại, vị ấy đã không nghĩ đến địa đại, đã không nghĩ (tự ngã) đối chiếu với địa đại, đã không nghĩ (tự ngã) như là địa đại, đã không nghĩ: "Địa đại là của ta", - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Ta nói vị ấy có thể liễu tri địa đại.

Vị ấy thắng tri thủy đại... là thủy đại
Vị ấy thắng tri hỏa đại... là hỏa đại
Vị ấy thắng tri phong đại... là phong đại
Vị ấy thắng tri Sanh vật... là Sanh vật
Vị ấy thắng tri chư Thiên... là chư Thiên
Vị ấy thắng tri Sanh chủ... là Sanh chủ
Vị ấy thắng tri Phạm thiên... là Phạm thiên
Vị ấy thắng tri Quang âm thiên... là Quang âm thiên
Vị ấy thắng tri Biến tịnh thiên... là Biến tịnh thiên
Vị ấy thắng tri Quảng quả thiên... là Quảng quả thiên
Vị ấy thắng tri Thắng Giả... là Thắng Giả
Vị ấy thắng tri Không vô biên xứ... là Không vô biên xứ
Vị ấy thắng tri Thức vô biên xứ... là Thức vô biên xứ
Vị ấy thắng tri Vô sở hữu xứ... là Vô sở hữu xứ
Vị ấy thắng tri Phi tưởng phi phi tưởng xứ... là Phi tưởng phi phi tưởng xứ
Vị ấy thắng tri sở kiến... là sở kiến
Vị ấy thắng tri sở văn... là sở văn
Vị ấy thắng tri sở tư niệm... là sở tư niệm
Vị ấy thắng tri sở tri... là sở tri
Vị ấy thắng tri đồng nhất... là đồng nhất
Vị ấy thắng tri sai biệt... là sai biệt
Vị ấy thắng tri tất cả... là tất cả

Vị ấy thắng tri Niết‑bàn là Niết‑bàn; vì thắng tri Niết‑bàn là Niết‑bàn, vị ấy đã không nghĩ đến Niết‑bàn, đã không nghĩ (tự ngã) đối chiếu với Niết‑bàn, đã không nghĩ (tự ngã) như là Niết‑bàn, đã không nghĩ: "Niết‑bàn là của ta" - không dục hỷ Niết‑bàn. Vì sao vậy? Ta nói vị ấy có thể liễu tri Niết‑bàn.

Bậc A‑la‑hán - I:

Lại nữa, này các Tỷ‑kheo, có Tỷ‑kheo là bậc A‑la‑hán, các lậu hoặc đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát. Vị ấy thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng tri địa đại là địa đại, vị ấy không nghĩ đến địa đại, không nghĩ (tự ngã) đối chiếu với địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, không nghĩ: "Địa đại là của ta" - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Ta nói vị ấy đã liễu tri địa đại.

Vị ấy thắng tri thủy đại... là thủy đại
Vị ấy thắng tri hỏa đại... là hỏa đại
Vị ấy thắng tri phong đại... là phong đại
Vị ấy thắng tri sanh vật... là sanh vật
Vị ấy thắng tri chư Thiên... là chư Thiên
Vị ấy thắng tri Sanh chủ... là Sanh chủ
Vị ấy thắng tri Phạm thiên... là Phạm thiên
Vị ấy thắng tri Quang âm thiên... là Quang âm thiên
Vị ấy thắng tri Biến tịnh thiên... là Biến tịnh thiên
Vị ấy thắng tri Quảng quả thiên... là Quảng quả thiên
Vị ấy thắng tri Thắng Giả... là Thắng Giả
Vị ấy thắng tri Không vô biên xứ... là Không vô biên xứ
Vị ấy thắng tri Thức vô biên xứ... là Thức vô biên xứ
Vị ấy thắng tri Vô sở hữu xứ... là Vô sở hữu xứ
Vị ấy thắng tri Phi tưởng phi phi tưởng xứ... là Phi tưởng phi phi tưởng xứ
Vị ấy thắng tri sở kiến... là sở kiến
Vị ấy thắng tri sở văn... là sở văn
Vị ấy thắng tri sở tư niệm... là sở tư niệm
Vị ấy thắng tri sở tri... là sở tri
Vị ấy thắng tri đồng nhất... là đồng nhất
Vị ấy thắng tri sai biệt... là sai biệt
Vị ấy thắng tri tất cả... là tất cả
Vị ấy thắng tri Niết‑bàn là Niết‑bàn. Vì thắng tri Niết‑bàn là Niết‑bàn, vị ấy không nghĩ đến Niết‑bàn, vị ấy không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Niết‑bàn, không nghĩ đến (tự ngã) như là Niết‑bàn, không nghĩ: "Niết‑bàn là của ta" - không dục hỷ Niết‑bàn. Vì sao vậy? Ta nói vị ấy đã liễu tri Niết‑bàn.

Bậc A‑la‑hán - II:

Lại nữa, này các Tỷ‑kheo, có Tỷ‑kheo là bậc A‑la‑hán, các lậu hoặc đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát. Vị ấy thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng tri địa đại là địa đại, vị ấy không nghĩ đến địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, không nghĩ: "Địa đại là của ta" - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Vì vị ấy không có tham dục, nhờ tham dục đã được đoạn trừ.

Vị ấy thắng tri thủy đại... là thủy đại
Vị ấy thắng tri hỏa đại... là hỏa đại
Vị ấy thắng tri Niết‑bàn là Niết‑bàn. Vì thắng tri Niết‑bàn là Niết‑bàn, vị ấy không nghĩ đến Niết‑bàn, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Niết‑bàn, không nghĩ đến (tự ngã) như là Niết‑bàn, không nghĩ: "Niết‑bàn là của ta" - không dục hỷ Niết‑bàn. Vì sao vậy? Vì vị ấy không có tham dục, nhờ tham dục đã được đoạn trừ.

Bậc A‑la‑hán - III:

Lại nữa, này các Tỷ‑kheo, có Tỷ‑kheo là bậc A‑la‑hán, các lậu hoặc đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát. Vị ấy thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng tri địa đại là địa đại, vị ấy không nghĩ đến địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, không nghĩ: "Địa đại là của ta" - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Vì vị ấy không có sân hận, nhờ sân hận đã được đoạn trừ.

Vị ấy thắng tri thủy đại... là thủy đại
Vị ấy thắng tri hỏa đại... là hỏa đại
Vị ấy thắng tri Niết‑bàn là Niết‑bàn. Vì thắng tri Niết‑bàn là Niết‑bàn, vị ấy không nghĩ đến Niết‑bàn, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Niết‑bàn, không nghĩ đến (tự ngã) như là Niết‑bàn, không nghĩ: "Niết‑bàn là của ta" - không dục hỷ Niết‑bàn. Vì sao vậy? Vì vị ấy không có sân hận, nhờ sân hận đã được đoạn trừ.

Bậc A‑la‑hán - IV:

Lại nữa, này các Tỷ‑kheo, có Tỷ‑kheo là bậc A‑la‑hán, các lậu hoặc đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát. Vị ấy thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng tri địa đại là địa đại, vị ấy không nghĩ đến địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, không nghĩ: "Địa đại là của ta" - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Vì vị ấy không có si mê, nhờ si mê đã được đoạn trừ.

Vị ấy thắng tri thủy đại... là thủy đại
Vị ấy thắng tri hỏa đại... là hỏa đại
Vị ấy thắng tri Niết‑bàn là Niết‑bàn. Vì thắng tri Niết‑bàn là Niết‑bàn, vị ấy không nghĩ đến Niết‑bàn, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Niết‑bàn, không nghĩ đến (tự ngã) như là Niết‑bàn, không nghĩ: "Niết‑bàn là của ta" - không dục hỷ Niết‑bàn. Vì sao vậy? Vì vị ấy không có si mê, nhờ si mê đã được đoạn trừ.

Đấng Như Lai - I:

Này các Tỷ‑kheo, Như Lai là bậc A‑la‑hán, Chánh Đẳng Giác, thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng tri địa đại là địa đại, Ngài không nghĩ đến địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, không nghĩ: "Địa đại là của ta" - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Ta nói vì Như Lai đã liễu tri địa đại.

Như Lai thắng tri thủy đại... là thủy đại
Như Lai thắng tri hỏa đại... là hỏa đại
Như Lai thắng tri Niết‑bàn là Niết‑bàn. Vì thắng tri Niết‑bàn là Niết‑bàn, Như Lai không nghĩ đến Niết‑bàn, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Niết‑bàn, không nghĩ đến (tự ngã) như là Niết‑bàn, không nghĩ đến (tự ngã) như là Niết‑bàn, không nghĩ: "Niết‑bàn là của ta" - không dục hỷ Niết‑bàn. Vì sao vậy? Ta nói vì Như Lai đã liễu tri Niết‑bàn.

Đấng Như Lai - II:

Này các Tỷ‑kheo, Như Lai là bậc A‑la‑hán, Chánh Đẳng Giác, thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng tri địa đại là địa đại, Như Lai không nghĩ đến địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, không nghĩ: "Địa đại là của ta" - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Vì Như Lai biết rằng: "Dục hỷ là căn bản của đau khổ, từ hữu, sanh khởi lên, và già và chết đến với loài sinh vật". Do vậy, này các Tỷ‑kheo, Ta nói vì Như Lai, với sự diệt trừ hoàn toàn các ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, sự xả ly, sự từ bỏ hoàn toàn các ái, đã chơn chánh giác ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Như Lai thắng tri thủy đại... là thủy đại
Như Lai thắng tri hỏa đại... là hỏa đại
Như Lai thắng tri Niết‑bàn là Niết‑bàn. Vì thắng tri Niết‑bàn là Niết‑bàn, Như Lai không nghĩ đến Niết‑bàn, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Niết‑bàn, không nghĩ đến (tự ngã) như là Niết‑bàn, không nghĩ: "Niết‑bàn là của Ta" -- không dục hỷ Niết‑bàn. Vì sao vậy? Vì Như Lai biết rằng: "Dục hỷ là căn bản của đau khổ, từ hữu, sanh khởi lên, và già chết đến với loài sinh vật". Do vậy, này các Tỷ‑kheo, Ta nói Như Lai, với sự diệt trừ hoàn toàn các ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, sự xả ly, sự trừ bỏ hoàn toàn các ái, đã chơn chánh giác ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Như vậy, Thế Tôn thuyết giảng. Các Tỷ‑kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời dạy của Thế Tôn.

---o0o---

HT Thích Minh Châu

Một thời Thế Tôn trú tại (tụ lạc) Ukkattha, trong rừng Hạnh Phúc, dưới gốc cây Sa-la vương. Tại chỗ ấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo!". - "Bạch Thế Tôn", những Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói: "Này các Tỷ-kheo. Ta sẽ giảng cho các Người "Pháp môn căn bản tất cả pháp". Hãy nghe và khéo tác ý, Ta...

Mục lục

  1. MN 1 - KINH PHÁP MÔN CĂN BẢN
  2. MN 2 - KINH TẤT CẢ CÁC LẬU HOẶC
  3. MN 3 - KINH THỪA TỰ PHÁP
  4. MN 4 - KINH SỢ HÃI KHIẾP ĐẢM
  5. MN 5 - KINH KHÔNG UẾ NHIỄM
  6. MN 6 - KINH ƯỚC NGUYỆN
  7. MN 7 - KINH VÍ DỤ TẤM VẢI
  8. MN 8 - KINH ĐOẠN GIẢM
  9. MN 9 - KINH CHÁNH TRI KIẾN
  10. MN 10 - KINH NIỆM XỨ
  11. MN 11 - TIỂU KINH SƯ TỬ HỐNG
  12. MN 12 - ĐẠI KINH SƯ TỬ HỐNG
  13. MN 13 - ĐẠI KINH KHỔ UẨN
  14. MN 14 - TIỂU KINH KHỔ UẨN
  15. MN 15 - KINH TƯ LƯỢNG
  16. MN 16 - KINH TÂM HOANG VU
  17. MN 17 - KINH KHU RỪNG
  18. MN 18 - KINH MẬT HOÀN
  19. MN 19 - KINH SONG TẦM
  20. MN 20 - KINH AN TRÚ TẦM
  21. MN 21 - KINH VÍ DỤ CÁI CƯA
  22. MN 22 - KINH VÍ DỤ CON RẮN
  23. MN 23 - KINH GÒ MỐI
  24. MN 24 - KINH TRẠM XE
  25. MN 25 - KINH BẪY MỒI
  26. MN 26 - KINH THÁNH CẦU
  27. MN 27 - TIỂU KINH DỤ DẤU CHÂN VOI
  28. MN 28 - ĐẠI KINH DỤ DẤU CHÂN VOI
  29. MN 29 - ĐẠI KINH THÍ DỤ LÕI CÂY
  30. MN 30 - TIỂU KINH DỤ LÕI CÂY
  31. MN 31 - TIỂU KINH RỪNG SỪNG BÒ
  32. MN 32 - ĐẠI KINH RỪNG SỪNG BÒ
  33. MN 33 - ĐẠI KINH NGƯỜI CHĂN BÒ
  34. MN 34 - TIỂU KINH NGƯỜI CHĂN BÒ
  35. MN 35 - TIỂU KINH SACCAKA
  36. MN 36 - ĐẠI KINH SACCAKA
  37. MN 37 - TIỂU KINH ĐOẠN TẬN ÁI
  38. MN 38 - ĐẠI KINH ĐOẠN TẬN ÁI
  39. MN 39 - ĐẠI KINH XÓM NGỰA
  40. MN 40 - TIỂU KINH XÓM NGỰA
  41. MN 41 - KINH SÀLEYYAKA
  42. MN 42 - KINH VERANJAKA
  43. MN 43 - ĐẠI KINH PHƯƠNG QUẢNG
  44. MN 44 - TIỂU KINH PHƯƠNG QUẢNG
  45. MN 45 - TIỂU KINH PHÁP HÀNH
  46. MN 46 - ĐẠI KINH PHÁP HÀNH
  47. MN 47 - KINH TƯ SÁT
  48. MN 48 - KINH KOSAMBIYA
  49. MN 49 - KINH PHẠM THIÊN CẦU THỈNH
  50. MN 50 - KINH HÀNG MA
  51. MN 51 - KINH KANDARAKA
  52. MN 52 - KINH BÁT THÀNH
  53. MN 53 - KINH HỮU HỌC
  54. MN 54 - KINH POTALIYA
  55. MN 55 - KINH JÌVAKA
  56. MN 56 - KINH ƯU-BA-LY
  57. MN 57 - KINH HẠNH CON CHÓ
  58. MN 58 - KINH VƯƠNG TỬ VÔ ÚY
  59. MN 59 - KINH NHIỀU CẢM THỌ
  60. MN 60 - KINH KHÔNG GÌ CHUYỂN HƯỚNG
  61. MN 61 - KINH GIÁO GIỚI LA-HẦU-LA Ở RỪNG AMBALA
  62. MN 62 - ĐẠI KINH GIÁO GIỚI LA-HẦU-LA
  63. MN 63 - TIỂU KINH MÀLUNKYÀ
  64. MN 64 - ĐẠI KINH MÀLUNKYA
  65. MN 65 - KINH BHADDÀLI
  66. MN 66 - KINH VÍ DỤ CON CHIM CÁY
  67. MN 67 - KINH CÀTUMÀ
  68. MN 68 - KINH NALAKAPÀNA
  69. MN 69 - KINH GULISÀNI
  70. MN 70 - KINH KÌTÀGIRI
  71. MN 71 - KINH DẠY VACCHAGOTTA VỀ TAM MINH
  72. MN 72 - KINH DẠY VACCHAGOTTA VỀ LỬA
  73. MN 73 - ĐẠI KINH VACCHAGOTTA
  74. MN 74 - KINH TRƯỜNG TRẢO
  75. MN 75 - KINH MÀGANDIYA
  76. MN 76 - KINH SANDAKA
  77. MN 77 - ĐẠI KINH SAKULUDÀYI
  78. MN 78 - KINH SAMANAMANDIKÀ
  79. MN 79 - TIỂU KINH SAKULUDAYI
  80. MN 80 - KINH VEKHANASSA
  81. MN 81 - KINH GHATÌKÀRA
  82. MN 82 - KINH RATTHAPÀLA
  83. MN 83 - KINH MAKHÀDEVA
  84. MN 84 - KINH MADHURÀ
  85. MN 85 - KINH VƯƠNG TỬ BỒ ĐỀ
  86. MN 86 - KINH ANGULIMÀLA
  87. MN 87 - KINH ÁI SANH
  88. MN 88 - KINH BÀHITIKA
  89. MN 89 - KINH PHÁP TRANG NGHIÊM
  90. MN 90 - KINH KANNAKATTHALA
  91. MN 91 - KINH BRAHMÀYU
  92. MN 92 - KINH SELA
  93. MN 93 - KINH ASSALÀYANA
  94. MN 94 - KINH GHOTAMUKHA
  95. MN 95 - KINH CANKÌ
  96. MN 96 - KINH ESUKÀRI
  97. MN 97 - KINH DHÀNANJÀNI
  98. MN 98 - KINH VÀSETTHA
  99. MN 99 - KINH SUBHA
  100. MN 100 - KINH SANGÀRAVA
  101. MN 101 - KINH DEVADAHA
  102. MN 102 - KINH NĂM & BA
  103. MN 103 - KINH NGHĨ NHƯ THẾ NÀO
  104. MN 104 - KINH LÀNG SAMA
  105. MN 105 - KINH THIỆN TINH
  106. MN 106 - KINH BẤT ĐỘNG LỢI ÍCH
  107. MN 107 - KINH GANAKA MOGGALLÀNA
  108. MN 108 - KINH GOPAKA MOGGALLÀNA
  109. MN 109 - ĐẠI KINH MÃN NGUYỆT
  110. MN 110 - TIỂU KINH MÃN NGUYỆT
  111. MN 111 - KINH BẤT ĐOẠN
  112. MN 112 - KINH SÁU THANH TỊNH
  113. MN 113 - KINH CHÂN NHÂN
  114. MN 114 - KINH NÊN HÀNH TRÌ, KHÔNG NÊN HÀNH TRÌ
  115. MN 115 - KINH ĐA GIỚI
  116. MN 116 - KINH THÔN TIÊN
  117. MN 117 - ĐẠI KINH BỐN MƯƠI
  118. MN 118 - KINH NHẬP TỨC, XUẤT TỨC NIỆM
  119. MN 119 - KINH THÂN HÀNH NIỆM
  120. MN 120 - KINH HÀNH SANH
  121. MN 121 - KINH TIỂU KHÔNG
  122. MN 122 - KINH ĐẠI KHÔNG
  123. MN 123 - KINH HY HỮU VỊ TẰNG HỮU PHÁP
  124. MN 124 - KINH BẠC-CÂU-LA
  125. MN 125 - KINH ĐIỀU NGỰ ĐỊA
  126. MN 126 - KINH PHÙ-DI
  127. MN 127 - KINH A-NA-LUẬT
  128. MN 128 - KINH TÙY PHIỀN NÃO
  129. MN 129 - KINH HIỀN NGU
  130. MN 130 - KINH THIÊN SỨ
  131. MN 131 - KINH NHẤT DẠ HIỀN GIẢ
  132. MN 132 - KINH A-NAN NHẤT DẠ HIỀN GIẢ
  133. MN 133 - KINH ĐẠI CA-CHIÊN-DIÊN NHẤT DẠ HIỀN GIẢ
  134. MN 134 - KINH LOMASAKANGIYA NHẤT DẠ HIỀN GIẢ
  135. MN 135 - TIỂU KINH NGHIỆP PHÂN BIỆT
  136. MN 136 - ĐẠI KINH NGHIỆP PHÂN BIỆT
  137. MN 137 - KINH PHÂN BIỆT SÁU XỨ
  138. MN 138 - KINH TỔNG THUYẾT & BIỆT THUYẾT
  139. MN 139 - KINH VÔ TRÁNH PHÂN BIỆT
  140. MN 140 - KINH GIỚI PHÂN BIỆT
  141. MN 141 - KINH PHÂN BIỆT VỀ SỰ THẬT
  142. MN 142 - KINH PHÂN BIỆT CÚNG DƯỜNG
  143. MN 143 - KINH GIÁO GIỚI CẤP CÔ ĐỘC
  144. MN 144 - KINH GIÁO GIỚI CHANNA
  145. MN 145 - KINH GIÁO GIỚI PHÚ-LÂU-NA
  146. MN 146 - KINH GIÁO GIỚI NANDAKA
  147. MN 147 - TIỂU KINH GIÁO GIỚI LA-HẦU-LA
  148. MN 148 - KINH SÁU SÁU
  149. MN 149 - ĐẠI KINH SÁU XỨ
  150. MN 150 - KINH NÓI CHO DÂN NAGARAVINDA
  151. MN 151 - KINH KHẤT THỰC THANH TỊNH
  152. MN 152 - KINH CĂN TU TẬP