Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi

Tên Phạn: Mañjuśrī

Tên Hán–Việt: Văn Thù Sư Lợi, Mạn-thù-thất-lợi, Diệu Cát Tường, Diệu Đức

Hạnh nguyện: Dùng trí tuệ Bát-nhã khai mở Bồ-đề tâm, đưa chúng sinh lìa mê lầm và đi vào Phật đạo

Vị trí: Thượng thủ về trí tuệ trong hàng Bồ Tát; cùng Đức Phật Tỳ Lô Giá Na và Bồ Tát Phổ Hiền hợp thành Hoa Nghiêm Tam Thánh

Dấu hiệu nhận dạng: Thân tướng trẻ; kiếm trí tuệ; kinh Bát-nhã trên hoa sen xanh; sư tử làm vật cưỡi

Nguồn gốc và nhân duyên trong kinh điển

1. Vị Bồ Tát tượng trưng cho trí huệ

Văn-thù-sư-lợi là tên dịch theo âm, thường được gọi tắt là Văn-thù, dịch nghĩa là Diệu Đức, Diệu Cát Tường, cũng có lúc được gọi là Diệu Âm, dịch từ tên tiếng Phạn là Mañjughoṣa, là một vị Bồ Tát tượng trưng cho trí huệ, một trong những vị Bồ Tát quan trọng của Phật giáo. Lần đầu tiên người ta nhắc đến Văn-thù trong tác phẩm Văn-thù-sư-lợi căn bản nghi quỹ (sa. ārya-mañjuśrī-mūlakalpa) ở thế kỉ thứ 4.

Trong Phật giáo Tây Tạng, các vị luận sư xuất sắc như Tông-khách-ba thường được xem là hiện thân của Văn-thù (Châu-cô). Dưới tên Diệu Âm,"Người với tiếng nói êm dịu", Văn-thù Bồ Tát thường được tán tụng trước khi hành giả nghiên cứu kinh điển, nhất là kinh điển thuộc hệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa và học thuyết của Trung quán tông. Văn-thù là vị Bồ Tát tượng trưng cho kinh nghiệm giác ngộ, đạt được bằng phương tiện tri thức.

2. Khai thị trí tuệ giữa pháp hội của Đức Phật Thích Ca

Lúc bấy giờ, Phật bảo Văn Thù Sư Lợi : - Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.

Văn Thù Sư Lợi bạch Phật : - Bạch Thế Tôn ? Bực Thượng nhơn kia khó bề đối đáp, vì ông ấy rất thâm đạt thật tướng, khéo nói pháp mầu, trí tuệ vô ngại, biện tài thông suốt, rõ thấu phương pháp tu trì của tất cả Bồ Tát, thâm nhập kho tạng bí mật của Chư Phật, hàng phục các ma, thần thông tự tại và trí tuệ phương tiện đều đặng rốt ráo. Tuy thế, con xin vưng thánh chỉ của Phật đến thăm bịnh ông.

Lúc ấy, trong Đại chúng các hàng Bồ Tát và hàng Đại đệ tử, Đế Thích, Phạm thiên, Tứ thiên vương đều nghĩ rằng : “Hôm nay hai vị đại sĩ : Văn Thù Sư Lợi và Duy Ma Cật cùng nhau đàm luận tất nói pháp mầu”. Tức thời, tám nghìn Bồ Tát, năm trăm Thanh Văn và trăm nghìn Thiên nhơn đều muốn đi theo.

Bấy giờ, Văn Thù Sư Lợi cùng các Bồ Tát, Đại đệ tử và các hàng Thiên nhơn cung kính đoanh vây đi vào đại thành Tỳ Da Ly.

3. Đạo tràng tại núi Ngũ Đài

Theo truyền thống Phật giáo Trung Quốc, Văn-thù được Phật Thích-ca đích thân giao phó việc truyền bá Phật pháp tại đây và Ngũ Đài sơn chính là nơi Bồ Tát thuyết pháp. Vì vậy, Ngũ Đài sơn cũng được xem là trụ xứ của Văn-thù (xem Tứ đại danh sơn). Một thuyết khác bảo rằng, Bồ Tát đã từng xuất hiện tại Trung Quốc trong thế kỉ 1, đời Hán Minh Đế. Câu niệm danh hiệu của vị bồ tát này là:"Nam mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát".

Núi Ngũ Đài sơn gắn liền với Văn Thù bồ tát. Ngũ Đài cũng có quan hệ lâu dài với Phật giáo Tây Tạng.

Ngũ Đài sơn từng là số một trong số 4 núi được nhận dạng và thường được nói tới như là "số một trong số tứ đại danh sơn". Nó được nhận dạng trên cơ sở đường đi tìm đạo trong kinh Hoa Nghiêm, được miêu tả như là nơi ở/tu luyện của nhiều vị bồ tát. Trong chương này, Văn Thù bồ tát được coi là cư ngụ tại một "ngọn núi mát lạnh và trong lành" ở phía đông bắc. Điều này được coi là đặc điểm riêng biệt để nhận dạng ngọn núi này và tên gọi khác của nó "Thanh Lương sơn" nghĩa là núi trong lành và mát lạnh.

Người ta tin rằng bồ tát Văn Thù thường hiển linh trên núi này dưới dạng của những người hành hương hay nhà sư bình thường hoặc hay xuất hiện dưới dạng các đám mây ngũ sắc bất thường.

Hình tượng và ý nghĩa pháp bảo

Tranh tượng trình bày Văn-thù với lưỡi kiếm và kinh Bát-nhã-ba-la-mật-đa, được vẽ khoảng ngang đầu. Người ta xem đó là biểu tượng trí huệ phá đêm tối của Vô minh. Về sau chúng ta thường thấy Văn-thù cưỡi trên một con sư tử.

Những hình tướng phổ biến

Văn-thù cũng xuất hiện dưới dạng một Thần thể (sa. iṣṭadevatā, sādhita, bo. yidam) phẫn nộ, có tên gọi là Diêm-mạn-đức-ca –"Người chiến thắng tử thần"(sa. yamāntaka), có dạng vị thần mang đầu bò. Dạng này là Thần thể quan trọng của phái Cách-lỗ tại Tây Tạng.

Ngày vía

Đại nguyện

1. Tùy duyên giáo hóa trong ba cõi: Nguyện đối với tất cả chúng sinh sinh trong ba cõi, dù do Ngài trực tiếp giáo hóa hay nhờ người khác giáo hóa, đều tùy căn duyên mà tiếp nhận và dẫn dắt.

2. Chuyển oán hại thành Bồ-đề tâm: Nguyện những người phỉ báng, giận dữ, hành hạ hoặc giết hại Ngài, dù oán kết giữa mình và người chưa thể hóa giải, vẫn kết pháp duyên với Ngài và phát tâm giác ngộ.

3. Chuyển lòng ái nhiễm thành Bồ-đề tâm: Nguyện những người yêu mến thân Ngài, muốn thấy hoặc cầu được gần Ngài, nhờ duyên ấy chuyển sự ham muốn thành tâm cầu giác ngộ.

4. Nhiếp phục người khinh mạn và hủy báng Tam bảo: Nguyện người khinh thường, nghi ngờ, áp bức, dối gạt Ngài; người phỉ báng Tam bảo, ganh ghét người hiền, hiếp đáp kẻ khác và thường làm điều bất thiện, đều kết duyên với Ngài và phát Bồ-đề tâm.

5. Bình đẳng với mọi thái độ: Nguyện người xem thường, bạc đãi, làm Ngài hổ thẹn, hoặc kính trọng hay không kính trọng Ngài, tất cả đều cùng Ngài có duyên và phát Bồ-đề tâm.

6. Cứu người sát sinh và chuyển hóa tranh đoạt tài vật: Nguyện người thường giết hại sinh mạng, bán thịt cầu lợi, chịu quả báo mất thân người, vẫn không bị Ngài từ bỏ và được dẫn phát Bồ-đề tâm; người lấy tài vật của Ngài cũng được Ngài bố thí, dù nhận được hay không đều kết duyên phát tâm giác ngộ.

7. Cùng người cho và nhận pháp phát tâm: Nguyện người cúng dường Ngài, người được Ngài cúng dường, người nghe nhận lời dạy của Ngài, người mà Ngài theo học, cùng những người đồng hành, đồng nghiệp, đều kết pháp duyên và phát Bồ-đề tâm.

8. Cứu người tạo ác nghiệp, đọa địa ngục: Nguyện chúng sinh đã làm nhiều việc ác, rơi vào địa ngục tưởng không có ngày ra, vẫn kết duyên với Ngài và phát Bồ-đề tâm.

9. Theo vào các nẻo để cứu người phá pháp: Nguyện người buông lung thân tâm, kiêu mạn, làm ô nhiễm Phật pháp, tạo tội đọa địa ngục A-tỳ rồi lưu chuyển sáu đường, đều được Ngài tùy duyên hóa hiện, đồng hành để cứu ra khỏi biển sinh tử và khiến phát tâm cầu đạo vô thượng.

10. Khiến hữu duyên và chưa hữu duyên cùng vào đại nguyện: Nguyện tất cả chúng sinh đối với pháp của Ngài, dù đã có duyên hay chưa có duyên, đều cùng đi vào đại nguyện; nhờ sức của thánh trí mà tội cấu tiêu giảm, tiến vào Bồ-đề và thành tựu quả Phật.

Chân ngôn

Chân ngôn Arapacana

Giải từng phần:

Sự tích

Trung Hoa

Văn Thù thị hiện tại Ngũ Đài Sơn

Một năm nọ nơi đây có tổ chức một bữa tiệc ăn chay lớn. Một phụ nữ hành khất dắt theo hai đứa con nhỏ và một con chó đói tới ăn xin, được cho ba suất, chưa cho là đủ, nói: "Con chó cũng nên có phần". Hòa thượng cho thêm một suất, người phụ nữ lại nói: "Trong bụng tôi còn một đứa bé cũng nên có phần". Vị hòa thượng nổi giận: "Đứa bé còn chưa sinh ra cũng đòi phần ăn, thật không biết thế nào là đủ". Người phụ nữ bèn đáp: "Chúng sinh bình đẳng, thai nhi chẳng nhẽ không phải là người?". Nói rồi, người phụ nữ cắt tóc, bay lên trời, xuất hiện pháp tướng Bồ Tát, hai đứa con hóa thành hai đồng tử, con chó biến thành sư tử xanh.

Nepal

Mở hồ Kathmandu để chiêm bái Swayambhu

Theo Swayambhu Purana thì toàn bộ thung lũng đã từng là một hồ nước, trong hồ có đóa sen thiêng của một vị Phật đã trồng, hoa sen này phát ra ánh sáng. Thung lũng được gọi là Swayambhu, có nghĩa là "Tự tạo". Tên này xuất phát từ một ngọn lửa tự tồn tại vĩnh cửu (svyaṃbhu) mà sau đó một sūpa đã được xây dựng.

Ánh sáng của hoa sen kỳ diệu đến mức các vị Thánh, Thần linh khắp mọi nơi cũng tìm đến để phát triển kinh nghiệm tâm linh. Bấy giờ đức Văn Thù, vị Bồ Tát của trí tuệ và học thức đang ngụ ở một ngọn núi cũng quán thấy và cưỡi sư tử đến đỉnh lễ hoa sen. Ngài thấy đây là một nơi định cư tốt và để làm cho địa điểm này dễ tiếp cận hơn với những Phật tử, ngài đã dùng kiếm của mình cắt những ngọn núi ở Chovar, dùng chúng chắn xung quanh và rút cạn nước trong hồ để lại thung lũng nơi mà bây giờ là thành phố Kathmandu, hoa sen liền biến thành ngọn đồi, còn ánh sáng kì diệu thì biến thành một ngôi bảo tháp.

Có những con khỉ thần sống ở phía tây bắc ngôi đền. Chúng được coi là thần linh vì Văn Thù đã để cho tóc dài ra, chấy rận phát triển và sau đó biến thành khỉ.