Bồ Tát Phổ Hiền
Tên Phạn: Samantabhadra
Tên Hán–Việt: Phổ Hiền, Biến Cát
Hạnh nguyện: Đem trí giác ngộ vào hành động qua Mười đại nguyện vương
Vị trí: Một trong Hoa Nghiêm Tam Thánh, đứng cùng Đức Phật Tỳ Lô Giá Na và Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi
Dấu hiệu nhận dạng: Ngồi trên hoa sen đặt trên lưng voi trắng sáu ngà; chắp tay hoặc cầm hoa sen, kinh quyển
Nguồn gốc và nhân duyên trong kinh điển
1. Hộ trì người thọ trì Kinh Pháp Hoa
Ngài là một trong những vị Bồ Tát quan trọng trong Phật giáo Đại thừa. Theo kinh Pháp Hoa, Ngài là vị Bồ tát ở quốc độ của Phật Bảo Oai Đức Thượng Vương, phía Đông cõi Ta Bà, nghe thế giới này thuyết kinh Pháp Hoa liền lãnh đạo năm trăm vị Đại Bồ tát đến nghe pháp và phát tâm hộ trì Chánh pháp của Đức Phật.
Bấy giờ, bằng thần lực rất tự tại và danh tiếng đầy uy đức của mình, đại bồ tát Phổ hiền, với sự tháp tùng của các vị đại bồ tát nhiều đến vô lượng vô biên không thể tính kể, từ hướng đông mà đến đại hội này. Những thế giới hệ mà ngài đi qua đều chấn động sáu cách, mưa xuống hoa sen quí báu, và tấu lên vô lượng trăm ngàn vạn ức chủng loại nhạc khí. Theo hầu bao quanh ngài còn có một đại chúng gồm cả tám bộ mà ai cũng biểu hiện uy đức và thần lực. Khi đến Linh sơn của thế giới hệ này, ngài đem đầu mặt lạy ngang chân đức Thế tôn, và theo chiều bên phải, ngài đi quanh đức Thế tôn bảy vòng, rồi thưa, bạch đức Thế tôn, từ cõi Phật của đức Bảo uy đức thượng vương như lai, con xa nghe tại thế giới hệ Kham nhẫn này đức Thế tôn tuyên thuyết Pháp hoa, nên cùng với vô lượng vô biên trăm ngàn vạn ức bồ tát, con đến đây để lắng nghe và tiếp nhận. Kính xin đức Thế tôn dạy cho con được biết, sau khi ngài nhập diệt thì thiện nam thiện nữ trong thời kỳ ấy làm sao để có được Pháp hoa? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Phổ hiền, thiện nam thiện nữ nào có bốn yếu tố sau đây thì sau khi Như lai nhập diệt vẫn được Pháp hoa: một là được chư Phật giữ gìn, hai là gieo trồng gốc rễ công đức, ba là đã ở trong nhóm người cố định theo chánh pháp , bốn là phát nguyện cứu độ chúng sinh. Thiện nam hay thiện nữ nào có bốn yếu tố như vậy thì Như lai nhập diệt rồi cũng vẫn chắc chắn có được Pháp hoa.
Đại bồ tát Phổ hiền thưa, bạch đức Thế tôn, năm trăm năm sau, trong thời kỳ dữ dội vẩn đục ấy có ai tiếp nhận kính giữ Pháp hoa, thì con sẽ hộ trì bằng cách trừ khử suy biến tai họa cho những người này được yên vui. Con làm cho không một kẻ nào dò xét tìm kiếm mà được cơ hội thuận tiện để quấy phá những người này. Ma vương, con trai ma vương, con gái ma vương, dân ma vương, kẻ bị ma vương phụ nhập, quỉ ăn thịt người, quỉ bạo ác, quỉ ăn tinh chất, quỉ điên cuồng, quỉ thây chết, quỉ xú uế, kẻ dùng chú tạo ra quỉ thây chết , và những kẻ cùng loại, tất cả những kẻ quấy phá nhân loại trên đây không ai có được cơ hội thuận tiện. Những người này hoặc đi hoặc đứng mà đọc tụng Pháp hoa, thì lúc ấy con cỡi voi chúa sắc trắng có sáu ngà, cùng các đại bồ tát đến tại chỗ mà tự biểu hiện thân mình để hiến cúng, hộ trì và an ủi tâm chí cho những người này, lại để hiến cúng kinh Pháp hoa. Những người này ngồi mà tư duy ý nghĩa Pháp hoa, thì lúc ấy con cũng cỡi voi chúa sắc trắng mà biểu hiện trước mắt, để nếu những người này có quên mất một câu hay một bài chỉnh cú nào của kinh Pháp hoa, thì con sẽ chỉ dạy và cùng đọc tụng cho những người này thông suốt như cũ.
Những người đọc tụng kính giữ Pháp hoa này được thấy thân con thì vô cùng hoan hỷ, càng thêm tinh tiến. Và nhờ thấy thân con mà tức thì được định, lại được các tổng trì tên là tổng trì Xoay chuyển, tổng trì Xoay chuyển vô số, tổng trì Nghệ thuật thuyết pháp, được các tổng trì mà đại loại là như vậy .
Bạch đức Thế tôn, năm trăm năm sau, trong thời kỳ dữ dội vẩn đục, đối với Pháp hoa mà tỷ kheo và tỷ kheo ni, ưu bà tắc và ưu bà di, bốn chúng ấy có ai tìm kiếm cho được, ai tiếp nhận ghi nhớ, ai đọc xét văn nghĩa, ai tụng được thuộc lòng, ai sao chép ấn hành, rồi muốn tu tập về kinh ấy, thì trong ba tuần bảy ngày hãy nhất tâm mà tinh tiến. Trọn vẹn ba tuần bảy ngày rồi, con cỡi voi trắng sáu ngà, có vô lượng bồ tát bao quanh, đem cái thân hết thảy chúng sinh ai cũng thích nhìn mà biểu hiện trước mắt và thuyết pháp cho những người này, với đủ cách trình bày, thuyết phục, khuyến khích và tán thưởng. Con lại cho những người này một bài tổng trì minh chú. Được bài tổng trì minh chú ấy thì không có một kẻ không phải loài người nào mà quấy phá được, cũng không bị mê hoặc rối loạn vì người khác phái. Con cũng đích thân hộ trì cho những người này một cách thường trực. Kính xin đức Thế tôn cho phép con tuyên thuyết bài tổng trì minh chú ấy. Đối trước đức Thế tôn, đại bồ tát Phổ hiền liền nói tổng trì minh chú:
Bạch đức Thế tôn, vị bồ tát nào nghe được tổng trì minh chú ấy thì nên biết đó là do thần lực Phổ hiền. Pháp hoa mà lưu hành được tại đại lục Diêm phù, và có ai tiếp nhận kính giữ, thì nên nghĩ toàn là do thần lực Phổ hiền. Có ai tiếp nhận ghi nhớ, đọc xét văn nghĩa, tụng được thuộc lòng, nhớ nghĩ chính xác, lý giải nghĩa ý, làm đúng kinh dạy... thì nên biết người ấy đi theo đường đi Phổ hiền, nơi chỗ vô lượng vô biên chư Phật đã gieo trồng rất sâu gốc rễ pháp lành, và được chư Phật đưa tay xoa đầu. Ai chỉ sao chép ấn hành Pháp hoa, thì người ấy mạng chung là sinh lên tầng trời Đao lợi, tám vạn bốn ngàn thiên nữ diễn tấu kịch nhạc mà đón rước, người ấy tức khắc đội mão làm bằng bảy thứ quí báu, vui thích giữa các thiên nữ ấy. Chỉ sao chép ấn hành Pháp hoa mà đã như vậy, huống chi tiếp nhận ghi nhớ, đọc xét văn nghĩa, tụng được thuộc lòng, nhớ nghĩ chính xác, lý giải nghĩa ý, làm đúng kinh dạy... ? Nên, đối với Pháp hoa, ai tiếp nhận ghi nhớ, đọc xét văn nghĩa, tụng được thuộc lòng, lý giải nghĩa ý..., thì người ấy mạng chung là được ngàn đức Phật trao tay cho, làm cho không còn sợ hãi, không sa vào đường dữ, và tức khắc sinh lên tầng trời Đâu suất, chỗ đức Di lặc, vị đại sĩ có ba mươi hai tướng đại trượng phu, có chúng đại bồ tát bao quanh, có trăm ngàn vạn ức thiên nữ làm tùy thuộc. Có những ích lợi như vậy, nên người có trí hãy kính cẩn mà đích thân sao chép ấn hành, khuyên người sao chép ấn hành, kính cẩn mà tiếp nhận ghi nhớ, đọc xét văn nghĩa, tụng được thuộc lòng, nhớ nghĩ chính xác, làm đúng kinh dạy... Bạch đức Thế tôn, chính con đem thần lực của con mà giữ gìn Pháp hoa, làm cho kinh này, sau khi đức Thế tôn nhập diệt, vẫn được lưu hành rộng rãi tại đại lục Diêm phù, không bị tuyệt tích.
Khi ấy đức Thế tôn tán dương, rằng tốt lắm Phổ hiền, tốt lắm việc đại sĩ giữ gìn Pháp hoa mà ích lợi yên vui rất nhiều cho bao nhiêu chúng sinh. Đại sĩ đã hoàn thành công đức ngoài tầm nghĩ bàn và từ bi vĩ đại sâu xa, đã phát tâm nguyện tuệ giác vô thượng liên tục từ xa xưa cho đến bây giờ, vậy mà bây giờ đại sĩ vẫn phát tâm nguyện đem thần lực Phổ hiền giữ gìn Pháp hoa ! Như lai đem thần lực của Như lai mà giữ gìn cho những người trì niệm danh hiệu Phổ hiền.
2. Mười đại nguyện
Căn bản tu tập của Phật giáo Đại thừa, Kim Cương thừa là Nhị Tư Lương (Phúc - Trí, Phương Tiện - Trí Tuệ, Bồ Đề tâm - Trí Tuệ). Nếu Văn Thù đại diện cho Trí Tuệ thì Phổ Hiền đại diện cho Phương Tiện, hạnh nguyện lớn lao vĩ đại. Mười đại nguyện của Ngài gồm có:
Kính lễ Chư Phật.
Xưng Tán Như Lai.
Quảng Tu Cúng Dường.
Sám Hối Nghiệp Chướng.
Tùy Hỷ Công Đức.
Thỉnh Chuyển Pháp Luân.
Thỉnh Phật Trụ Thế.
Thường Tùy Phật Học.
Hằng Thuận Chúng Sinh.
Phổ Giai Hồi Hướng.
Hình tượng và ý nghĩa pháp bảo
Bồ Tát cưỡi voi trắng sáu ngà, voi trắng tượng trưng cho trí huệ vượt chướng ngại, sáu ngà cho sự chiến thắng sáu giác quan.
Biểu tượng của Phổ Hiền là ngọc như ý, hoa sen, có khi là trang sách ghi thần chú của Bồ Tát.
Phổ Hiền thường xuất hiện trong bộ ba cùng với Thích Ca và Văn Thù Sư Lợi gọi là Thích Ca Tam Tôn. Ngài đứng bên phải, còn Văn Thù đứng bên trái và có khi họ được vây quanh bởi mười sáu thiên thần bảo vệ cho kinh Bát Nhã. Ngài thường xuất hiện như một Bồ Tát với vương miện và y trang đầy ắp châu báu như một ông hoàng và nhiều tranh ảnh tượng, ngài cưỡi voi trắng 6 ngà, voi trắng tượng trưng cho chiến thắng 6 giác quan.
Tùy khí của ngài chính là viên bảo châu mà ngài thường cầm nơi tay trái hoặc tay phải cầm hoa sen, trên đó hoa là viên bảo châu. Trong nhiều biểu thị, một trong hai bàn tay ngài bắt ấn giáo hóa, với ngón cái và ngón trỏ, chạm nhau thành hình tam giác. Trong những hình ảnh khác ngài cầm cuộn kinh hay kim cương chử nơi tay trái, trong tranh tượng ở Nhật Bản, Phổ Hiền Dương Mệnh Bồ Tát được trình bày với ba mươi hai tay ngồi trên voi trắng bốn đầu hoặc trên bốn voi trắng.
Những hình tướng phổ biến
Trong Kim cương thừa, tên Phổ Hiền được sử dụng chỉ Phật Bản Sơ (sa. ādi-buddha), hiện thân của Pháp thân (sa. dharmakāya, xem Tam thân). Phổ Hiền này (không phải vị Đại Bồ Tát) được vẽ với màu xanh đậm, tượng trưng cho tính Không. Tranh tượng cũng vẽ Phổ Hiền hợp nhất với nữ thần sắc trắng, tượng trưng cho sự nhất thể. Trong phép Đại thủ ấn (sa. mahāmudrā), thân của Phổ Hiền là Báo thân (sa. saṃbhogakāya) và đóng một vai trò trung tâm.
Ngày vía
- Ngày 21 tháng 2: vía Đức Phổ Hiền Bồ Tát, theo Bắc tông
- 23/4: Ngày vía Phổ Hiền Thành Đạo
Đại nguyện
1. Lễ kính chư Phật: Nguyện đối trước tất cả chư Phật trong mười phương ba đời đều khởi tâm cung kính, dùng thân, khẩu, ý thanh tịnh mà thường xuyên đảnh lễ, không sinh mỏi chán cho đến khi cõi hư không và chúng sinh đều tận.
2. Xưng tán Như Lai: Nguyện dùng lời nói thanh tịnh, bằng vô số âm thanh và biển lời ca ngợi, tuyên dương công đức chân thật của tất cả Như Lai trong mọi thế giới, liên tục không gián đoạn.
3. Quảng tu cúng dường: Nguyện dâng các thứ hoa, hương, âm nhạc, đèn, y phục và mọi vật tốt đẹp lên chư Phật; cao hơn hết là pháp cúng dường: tu đúng lời dạy, làm lợi ích chúng sinh, chịu khổ thay chúng sinh, siêng tu căn lành, không bỏ Bồ-tát nghiệp và không lìa tâm Bồ-đề.
4. Sám hối nghiệp chướng: Nguyện nhận biết mọi nghiệp xấu do tham, sân, si từ vô thủy đã tạo bằng thân, khẩu, ý; thành tâm phát lộ sám hối và giữ gìn để không tái phạm, nhờ đó làm thanh tịnh con đường tu.
5. Tùy hỷ công đức: Nguyện vui theo, không ganh tị trước mọi công đức của chư Phật, Bồ-tát, Thanh văn, Duyên giác và tất cả chúng sinh; từ việc thiện nhỏ nhất đến công hạnh giác ngộ đều hoan hỷ tán trợ.
6. Thỉnh chuyển pháp luân: Nguyện đến trước tất cả chư Phật vừa thành đạo, dùng thân, lời và các phương tiện cung kính thỉnh các Ngài giảng dạy chánh pháp, giúp chúng sinh hiểu đường lìa khổ và đạt giác ngộ.
7. Thỉnh Phật trụ thế: Nguyện thỉnh chư Phật, Bồ-tát, Thanh văn, Duyên giác và các bậc thiện tri thức đừng vội nhập Niết-bàn, mà tiếp tục ở đời trong vô số kiếp để giáo hóa và làm lợi ích chúng sinh.
8. Thường tùy Phật học: Nguyện luôn học theo chư Phật từ lúc phát tâm, tu hành, thành đạo, chuyển pháp luân cho đến thị hiện Niết-bàn; noi theo cả trí tuệ, từ bi lẫn phương tiện giáo hóa của các Ngài trong từng niệm.
9. Hằng thuận chúng sinh: Nguyện tùy theo căn tính và nhu cầu chân chính của mọi loài mà phụng sự, chăm sóc và dẫn dắt họ; xem chúng sinh như cha mẹ, thầy dạy và chư Phật, bởi nhờ làm lợi ích chúng sinh mà thành tựu tâm đại bi và quả Bồ-đề.
10. Phổ giai hồi hướng: Nguyện đem tất cả công đức từ chín nguyện trước cùng mọi căn lành mình đã tạo hồi hướng khắp pháp giới, khiến chúng sinh lìa khổ, phát tâm Bồ-đề và cùng thành Phật đạo; khi mạng chung được sinh về Cực Lạc, gặp Phật A Di Đà và tiếp tục thực hiện đại nguyện.
Chân ngôn
Chân ngôn Phổ Hiền Bồ-tát
- Phạn: "Oṃ samayas tvaṃ."
- Hán–Việt: "Án, tam-muội-da, tát-đát-phạm."
- Ý nghĩa: Ngươi chính là thệ nguyện; tâm người hành trì tương ưng với tam-muội-da và đại hạnh Phổ Hiền.
Giải từng phần:
- Oṃ → Án: âm mở đầu thiêng liêng của chân ngôn.
- Samaya → Tam-muội-da: thệ nguyện, sự cam kết và mối tương ưng không thể tách rời.
- Tvaṃ → tát-đát-phạm: “ngươi”, “ngươi chính là”; chỉ sự đồng nhất với thệ nguyện.
Sự tích
Trung Hoa
Phổ Hiền và đạo tràng Nga Mi Sơn
Vị Bồ Tát bảo trợ của Nga Mi Sơn là Samantabhadra, trong tiếng Việt còn được gọi là Phổ Hiền Bồ tát.
Đỉnh cao nhất của Nga Mi Sơn là đỉnh Vạn Phật của ngọn núi chính Kim Đỉnh, với độ cao 3.099 m. Với địa thế cao chót vót, phong cảnh đẹp nên người ta nói tới Nga Mi Sơn như là "Nga Mi thiên hạ tú". Là một trong Tứ đại Phật giáo danh sơn, tại Nga Mi Sơn có khoảng 26 ngôi chùa; miếu, trong đó có 8 ngôi chùa; miếu lớn là cơ bản nhất. Người ta cho rằng Nga Mi Sơn chính là đạo tràng của Phổ Hiền bồ tát.
Các cảnh quan khác còn có các chùa là Tiên Phong tự, Vạn Niên tự và Phục Hổ tự. Vạn Niên tự có kiến trúc mang đậm dấu ấn của Đạo giáo. Trong Vạn Niên tự có tượng đồng Phổ Hiền bồ tát cưỡi voi cao 7,35 m, nặng 62 tấn.