Phật Dược Sư
Tên Phạn: Bhaiṣajyaguru Vaiḍūryaprabharāja
Tên Hán–Việt: Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật
Hạnh nguyện: Chữa lành thân bệnh và tâm bệnh, giúp chúng sinh đủ điều kiện tu học cho đến giác ngộ
Vị trí: Tịnh Lưu Ly ở phương Đông
Dấu hiệu nhận dạng: Thân màu xanh lưu ly; tay trái nâng bát thuốc; tay phải cầm cây ha-lê-lặc hoặc kết ấn ban nguyện
Nguồn gốc và nhân duyên trong kinh điển
1. Đức Phật Thích Ca tuyên thuyết pháp Dược Sư
Lúc bấy giờ, ông Mạn Thù Thất Lợi pháp vương tử nhờ oai thần của Phật, từ chỗ ngồi đứng dậy, vén y để bày vai bên hữu và gối bên mặt quỳ sát đất, khép nép chắp tay hướng về phía Phật bạch rằng:” Bạch Đức Thế Tôn, cúi mong Ngài nói rõ những danh hiệu, những bổn nguyện rộng lớn cùng những công đức thù thắng của chư Phật để cho những người đang nghe pháp, nghiệp chướng tiêu trừ và để cho chúng hữu tình ở đời tượng pháp được nhiều lợi lạc về sau.
Đức Thế Tôn khen ông Mạn Thù Thất Lợi đồng tử rằng:” Hay thay! Hay thay! Mạn Thù Thất Lợi! Ngươi lấy lòng đại bi yêu cầu Ta nói những bổn nguyện công đức của chư Phật là vì muốn cho chúng hữu tình khỏi bị nghiệp chướng ràng buộc, lợi ích an vui, trong đời tượng pháp về sau. Nay ngươi nên lóng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì ngươi mà nói”.Ông Mạn Thù Thất Lợi bạch rằng:” Dạ, mong Thế Tôn nói, chúng con xin nghe”. Phật bảo ông Mạn Thù Thất Lợi:” Ở phương Đông cách đây hơn mười căn dà sa cõi Phật có một thế giới tên là Tịnh Lưu Ly. Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, Minh hạnh viên mãn, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật Bạt Già Phạm.
2. Khi còn hành Bồ-tát đạo, Ngài phát mười hai đại nguyện
Này Mạn Thù Thất Lợi, đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, khi còn tu hạnh đạo Bồ tát có phát mười hai nguyện lớn, khiến cho chúng hữu tình cầu chi được nấy.
Này Mạn Thù Thất Lợi, đó là mười hai lời nguyện nhiệm mầu của đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Ứng Chánh Đẳng Chánh Giác phát ra trong khi tu hạnh đạo Bồ tát.
3. Thành Phật tại cõi Tịnh Lưu Ly ở phương Đông
Lại nữa, Mạn Thù Thất Lợi, đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai kia khi còn tu hành đạo Bồ tát phát những lời nguyện rộng lớn và những công đức trang nghiêm ở cõi Ngài, dầu ta nói mãn một kiếp hay hơn một kiếp cũng không thể nói ngay rằng cõi Phật kia một bề thanh tịnh không có đàn bà, cũng không có đường dữ và cả đến tiếng khổ cũng không. Ở cõi ấy đất toàn bằng chất lưu ly, đường đi có dây bằng vàng giăng làm ranh giới, còn thành quách cung điện, mái hiên cửa sổ cho đến các lớp bao phủ cũng toàn bằng đồ thất bảo làm ra. Thật chẳng khác gì những công đức trang nghiêm ở cõi Tây Phương Cực Lạc.
Cõi Phật ấy có hai vị đại Bồ tát là Nhựt Quang biến chiếu, và Nguyệt Quang biến chiếu, chính là hai bực thượng thủ trong vô lượng, vô số Bồ tát và lại là những bậc sắp bổ xứ làm Phật. Hai vị này đều giữ gìn kho báu chánh pháp của Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai.
Mạn Thù Thất Lợi, vì thế những kẻ thiện nam tín nữ nào có lòng tin vững chắc thì nên nguyện sanh về thế giới của Ngài.
4. Dược Sư Như Lai nói đà-la-ni chữa lành
Này Mạn Thù Thất Lợi! Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai kia khi đã chứng được đạo Bồ đề, do sức bổn nguyện mà Ngài quan sát biết chúng hữu tình gặp phải các thứ bịnh khổ như da vàng, gầy ốm, cảm nhiệt, thương hàn, hoặc trúng phải những thứ ếm đối, đồ độc, hoặc bị hoạnh tử, hoặc bị chết non. Muốn những chứng bệnh đau khổ ấy được tiêu trừ và lòng mong cầu của chúng hữu tình được mãn nguyện, Ngài liền nhập định, kêu là định:” diệt trừ tất cả khổ não chúng sanh”. Khi Ngài nhập định, từ trong nhục kế phóng ra luồng ánh sáng lớn, luồng ánh sáng ấy chói chú đại đà la ni:
Nam mô bạt già phạt đế, bệ sát xã, lu lô tịch lưu ly, bác lặc bà, hát ra xà dã. Đát tha yết đa ra, a ra hắc đế. Tam miệu tam bột đà da, đát điệt tha. Án, bệ sát thệ, bệ sát xã, tam một yết đế tóa ha.
Lúc ấy trong luồng ánh sáng diễn chú này rồi, cả đại địa rúng động, phóng ra ánh đại quang minh làm cho tất cả chúng sanh dứt hết bịnh khổ, hưởng được an vui.
Này Mạn Thù Thất Lợi! Nếu thấy những người nào đang mắc bịnh khổ thì phải tắm gội cho sạch sẽ và vì họ nhứt tâm tụng chú này 108 biến, chú nguyện trong đồ ăn, trong thuốc uống hay trong nước không vi trùng mà cho họ uống thì những bịnh khổ ấy đều tiêu diệt.
Nếu có ai mong cầu việc gì mà chí tâm tụng niệm chú này thì đều được như ý muốn: Đã không bịnh lại thêm sống lâu, sau khi mạng chung được sanh về thế giới Tịnh Lưu Ly, không còn thối chuyển, rồi dần dần tu chứng đến đạo quả Bồ đề.
Hình tượng và ý nghĩa pháp bảo
Về ý nghĩa Thánh hiệu: Dược Sư, nghĩa đen là thầy thuốc chữa bệnh. Lưu Ly là một loại ngọc màu xanh trong suốt. Quang là ánh sáng. Lưu Ly quang là ánh sáng ngọc lưu ly. Dược Sư Lưu Ly Quang Phật là vị Phật có danh hiệu “Thầy thuốc chữa bịnh, ánh sáng như ngọc lưu ly” (HT.Trí Quang, Sđd, tr.203).
Phật Dược Sư có bổn nguyện cứu độ chúng sanh khỏi đau khổ bệnh tật, nên ánh sáng trong suốt hoàn toàn thanh tịnh (Lưu Ly Quang) như lưu ly vô ngại hiển hiện trên thân của Ngài. Những ai có bệnh tật, phiền não, ai đang trong ranh giới sinh tử, sẽ cầu Ngài để tai qua nạn khỏi, bệnh tật tiêu trừ. Đó là lí do, nhiều người thỉnh tượng Phật Dược Sư về để thờ phụng tại gia.
Hình ảnh của Phật Dược Sư thường được thể hiện với hình dạng giống như Đức Phật. Nếu không dựa vào pháp bảo hay tư thế thì rất khó để nhận biết được Tôn hiệu. Tượng Phật Dược Sư ở Tịnh Độ tông được mô tả sở hữu làn da màu xanh. Ngài thường được mô tả ở tư thế ngồi, mặc ba áo choàng của một tu sĩ Phật giáo hở ngực, trước ngực thường có chữ Vạn.
Trên tay Đức Phật cầm một lọ mật hoa màu lưu ly và tay phải đặt trên đầu gối phải, cầm thân cây Aruna hoặc Myrobalan giữa ngón tay cái ngón trỏ.
Những hình tướng phổ biến
Tam Thế Phật: Là bộ tượng gồm 3 vị chư Phật giống hệt nhau, có thể là ba vị Phật gồm Phật A Di Đà, Phật Thích Ca Mâu Ni và Phật Di Lặc. Tam Thế Phật cũng có thể là ba vị Phật đại diện cho ba thế giới là Phật Thích Ca Mâu Ni giáo chủ cõi Ta Bà ở vị trí trung tâm, Phật A Di Đà của thế giới Cực Lạc phương Tây ở bên phải và Phật Dược Sư của thế giới Tịnh Lưu Ly phương Đông ở bên trái.
Trong đó, phương Đông là nơi mặt trời mọc, biểu tượng cho sự sinh trưởng, phát triển; phương tây là hướng mặt trời lặn, biểu tượng cho sự trở về của vạn vật. Ba vị Tam Thế Phật đứng một chỗ mang ý nghĩa bao dung cho tất cả sự an lành.
Ngày vía
- 28/4: Ngày vía Dược Sư Đản Sanh
- Ngày 30 tháng 9: vía Đức Phật Dược Sư Lưu Ly
Đại nguyện
1. Thân quang chiếu diệu: Khi thành Phật, thân Ngài tỏa ánh sáng rực rỡ soi khắp vô lượng thế giới, đầy đủ ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp; nguyện cho tất cả hữu tình cũng thành tựu thân tướng trang nghiêm như vậy.
2. Thân như lưu ly: Khi thành Phật, thân Ngài trong ngoài sáng sạch như lưu ly, ánh sáng rộng lớn hơn mặt trời và mặt trăng; chúng sinh ở nơi tối tăm nhờ ánh sáng ấy mà thấy đường, biết nơi cần đến và làm được những việc cần làm.
3. Thọ dụng đầy đủ: Dùng vô lượng trí tuệ và phương tiện khiến chúng sinh có đủ vật dụng cần thiết, không còn thiếu thốn những điều kiện chính đáng để sống và tu học.
4. An lập Đại thừa: Đưa người đang đi theo tà đạo trở về đường giác ngộ; đưa người tu theo Thanh văn và Độc giác tiến vào Đại thừa, để cùng hướng đến quả vị Phật.
5. Giới hạnh thanh tịnh: Khi chúng sinh tu phạm hạnh trong giáo pháp của Ngài, giúp họ giữ trọn giới luật; người đã phạm giới, khi nghe danh hiệu Ngài và thành tâm sửa đổi, được trở lại thanh tịnh và tránh đọa vào đường dữ.
6. Thân căn đầy đủ: Khi những người thân thể khiếm khuyết, giác quan không trọn, dung mạo tổn hoại hoặc chịu các bệnh khiến thân tâm suy yếu nghe danh hiệu Ngài, nguyện cho họ được thân căn đầy đủ, trí sáng và hết bệnh khổ.
7. Trừ bệnh, được an vui giác ngộ: Những người bị bệnh tật bức bách, không nơi nương tựa, không thầy thuốc, thuốc men, thân thuộc hay phương tiện sinh sống, khi danh hiệu Ngài lọt vào tai thì bệnh khổ được dứt, thân tâm an ổn, quyến thuộc và vật dụng đầy đủ, rồi tiến đến giác ngộ tối thượng.
8. Chuyển nữ thành nam theo sở nguyện: Những người nữ chịu các khổ và sự bất lợi gắn với thân nữ, nếu nhàm chán thân nữ và mong chuyển đổi, khi nghe danh hiệu Ngài thì được thành tựu thân nam và tiến đến giác ngộ.
9. Ra khỏi lưới ma, trở về chánh kiến: Giúp chúng sinh thoát khỏi lưới ma và những trói buộc của ngoại đạo; người rơi vào rừng tà kiến được dẫn về chánh kiến, lần lượt thực hành các hạnh Bồ-tát và mau chứng giác ngộ.
10. Thoát hình phạt và bức hại: Những người bị luật vua trừng phạt, giam cầm, xiềng xích, đánh đập, xử tử, vu oan hoặc chịu nhục nhã và đau khổ thân tâm, khi nghe danh hiệu Ngài thì nhờ oai lực phước đức mà thoát các nạn ấy.
11. Được thức ăn rồi biết pháp vị: Những người vì đói khát phải tìm thức ăn mà tạo nghiệp xấu, khi nghe và chuyên niệm danh hiệu Ngài thì trước hết được thức ăn ngon làm no thân; sau đó được nuôi dưỡng bằng hương vị Chánh pháp để đạt an lạc bền vững.
12. Được y phục và đồ dùng trang nghiêm: Những người nghèo thiếu y phục, ngày đêm chịu rét, nóng, muỗi và côn trùng, khi nghe và chuyên niệm danh hiệu Ngài thì được y phục, vật dụng, hương hoa và âm nhạc theo nhu cầu chính đáng, không còn chịu cảnh thiếu thốn ấy.
Chân ngôn
Dược Sư quán đảnh chân ngôn
- Phạn: Namo bhagavate Bhaiṣajyaguru-Vaiḍūryaprabharājāya tathāgatāyārhate samyaksaṃbuddhāya. Tadyathā: "oṃ bhaiṣajye bhaiṣajye bhaiṣajya-samudgate svāhā."
- Hán–Việt: Nam mô bạc già phạt đế, bệ sát xã lũ rô, bệ lưu ly, bát lạt bà, hát ra xà dã, đát tha yết đa da, a ra hát đế, tam miệu tam bột đà da. Đát điệt tha: "án, bệ sát thệ, bệ sát thệ, bệ sát xã, tam một yết đế, tóa ha."
- Ý nghĩa: Kính lễ Đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai, bậc Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác.
Giải từng phần:
- Namo: kính lễ, quy kính.
- Bhagavate: Đức Thế Tôn, bậc đầy đủ phúc đức.
- Bhaiṣajyaguru: Dược Sư, vị thầy về phương dược chữa lành.
- Vaiḍūryaprabharājāya: Vua Ánh Sáng Lưu Ly.
- Tathāgatāya: Như Lai.
- Arhate: bậc Ứng Cúng.
- Samyaksaṃbuddhāya: bậc Chánh Đẳng Giác.
- Tadyathā: như vầy; lời dẫn vào phần chính của chân ngôn.
- Oṃ: âm mở đầu thiêng.
- Bhaiṣajye bhaiṣajye: hô gọi năng lực phương dược, được lặp lại để nhấn mạnh.
- Bhaiṣajya-samudgate: phương dược khởi hiện hoặc thành tựu trọn vẹn.
- Svāhā: lời kết chân ngôn, mang nghĩa thành tựu và xác lập.
Chân ngôn ngắn
- Phạn: Tadyathā: "oṃ bhaiṣajye bhaiṣajye mahābhaiṣajye rāja-samudgate svāhā."
Giải từng phần:
- Tadyathā: như vầy; lời dẫn vào chân ngôn.
- Oṃ: âm mở đầu thiêng.
- Bhaiṣajye bhaiṣajye: hô gọi năng lực phương dược, được lặp lại để nhấn mạnh.
- Mahābhaiṣajye: đại phương dược, phương dược lớn lao.
- Rāja: vua, tối thắng.
- Samudgate: khởi lên, xuất hiện hoặc thành tựu trọn vẹn.
- Svāhā: lời kết chân ngôn, mang nghĩa thành tựu và xác lập.
Sự tích
Trong kinh điển Đại thừa
Bồ-tát Cứu Thoát chỉ dạy cách hộ trì người bệnh
Lúc bấy giờ trong chúng hội có một vị đại Bồ tát tên là Cứu thoát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, vén y để bày vai bên hữu, gối bên mặt quì sát đất cúi mình chắp tay bạch Phật rằng:” Bạch Đại đức Thế Tôn, đến thời kỳ tượng pháp có những chúng sanh bị nhiều hoạn nạn, khốn khổ, tật bịnh luôn luôn, thân hình gầy ốm, ăn uống không được, môi cổ khô rang, mắt thấy đen tối, tướng chết hiện ra, cha mẹ, bà con, bè bạn quen biết vây quanh khóc lóc. Thân người bịnh vẫn còn nằm đó mà đã thấy sứ giả đến dẫn thần thức đem lại trước mặt vua Diêm Ma pháp vương, rồi liền khi ấy vị thần Cu sanh đem sổ ghi tội phước của người đó dưng lên vua Diêm Ma.
Lúc ấy vua phán hỏi rồi kê tính những tội phước của người kia đã làm mà xử đoán. Nếu trong lúc đó, những bà con quen biết, vì người bịnh ấy, qui y với đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai và thỉnh chúng tăng đọc tụng kinh nầy đốt đèn bảy từng, treo thần phang tục mạng năm sắc thì hoặc liền trong lúc ấy, hoặc trải qua bảy ngày, hai mươi mốt ngày, ba mươi lăm ngày, bốn mươi chín ngày, thần thức người kia được trở lại như vừa tỉnh giấc chiêm bao, tự mình nhớ biết những nghiệp lành, nghiệp dữ và sự quả báo đã thọ. Bởi chính đã rõ thấy nghiệp báo như vậy, nên dầu có gặp phải những tai nạn nguy hiểm đến tánh mạng cũng không dám tạo những nghiệp ác nữa. Vậy nên những tịnh tính thiện nam tín nữ đều phải một lòng thọ trì danh hiệu và tùy sức mình cung kính cúng dường đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai”.
Lúc bấy giờ ông A Nan hỏi Cứu Thoát Bồ Tát rằng:” Nầy thiện nam tử, nên cung kính cúng dường đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai như thế nào? Còn đèn và phang tục mạng phải làm cách sao”.
Cứu Thoát Bồ Tát nói:” Thưa Đại Đức, nếu có người bịnh nào, muốn khỏi bịnh khổ thì quyến thuộc họ phải thọ trì tám phần trai giới trong bảy ngày, bảy đêm tùy theo sức mình sắm sửa đồ ăn uống và các thứ cần dùng khác cúng dường chư tăng ngày đêm sáu thời, lễ bái cúng dường đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, đọc tụng kinh nầy bốn mươi chín ngọn đèn, lại tạo bảy hình tượng đức Dược Sư trước mỗi hình tượng để bảy ngọn đèn, mỗi ngọn lớn như bánh xe, đốt luôn trong bốn mươi chín ngày đêm đừng cho tắt; còn cái thần phang thì làm bằng hàng ngũ sắc bề dài bốn mươi chín gang tay và phải phóng sanh bốn mươi chín thứ loài vật thì người bịnh ấy qua khỏi ách nạn, không còn bị hoạnh tử và bị các loài quỉ nhiễu hại.
Mười hai vị Dược Xoa đại tướng
Lúc bấy giờ, trong hàng Đại chúng có mười hai vị Dược Xoa đại tướng đều ngồi trong hội như:
Mười hai vị đại tướng nầy mỗi vị đều có bảy ngàn Dược Xoa làm quyến thuộc đồng cất tiếng bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, hôm nay chúng tôi nhờ oai lực của Phật mà được nghe danh hiệu của đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, không còn tâm sợ sệt trong các đường ác thú nữa. Chúng tôi cùng nhau, đồng một lòng trọn đời qui y Phật, Pháp, Tăng, thề sẽ gánh vác cho chúng hữu tình, làm việc nghĩa lợi đưa đến sự nhiêu ích an vui. Tùy nơi nào hoặc làng xóm, thành, nước, hoặc trong rừng cây vắng vẻ, nếu có kinh này lưu bố đến hay có người thọ trì danh hiệu đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai và cung kính cúng dường Ngài, thì chúng tôi cùng quyến thuộc đồng hộ vệ người ấy thoát khỏi tất cả ách nạn và khiến họ mong cầu việc chi cũng đều được thỏa mãn. Nếu có ai bịnh hoạn khổ ách, muốn cầu cho khỏi thì cũng nên đọc kinh nầy và lấy chỉ ngũ sắc gút danh tự chúng tôi, khi đã được như lòng mong cầu thì mới mở gút ra”.
Lúc ấy đức Phật Thích Ca khen các vị Dược Xoa đại tướng rằng: “ Hay thay! Hay thay! Đại Dược Xoa tướng, các ngươi nghĩ muốn báo đáp ân đức của Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai nên mới phát nguyện làm những việc lợi ích an vui cho tất cả chúng hữu tình như vậy”.