Phật A Súc
Tên Phạn: Akṣobhya
Tên Hán–Việt: A Súc Phật, A Súc Bệ Phật, Bất Động Như Lai
Hạnh nguyện: Giữ tâm không sân hận, không ác ý đối với bất kỳ chúng sinh nào cho đến khi thành Phật
Vị trí: Cõi Diệu Hỷ (Abhirati) ở phương Đông; Đông phương Như Lai trong Ngũ Trí Như Lai
Dấu hiệu nhận dạng: Thân xanh lam, tay phải xúc địa, tay trái nhập định; chày kim cang, tòa voi
Nguồn gốc và nhân duyên trong kinh điển
1. Gặp Đức Phật Đại Mục và phát tâm Bồ-đề
Đức Phật A Súc Bệ (gọi tắt là A Súc) theo tiếng Hán còn gọi là A Súc Tì Phật, A Sô Tì Da Phật, Ác Khất Sô Tỳ Dã Phật; ý dịch là Bất Động Phật, Vô Động Phật, hay Vô Nộ Phật, Vô Sân Nhuế Phật
Ngài là một trong Ngũ Trí Phật ở 5 phương khác nhau; thường ngự ở phương Đông. Theo Phẩm Phát Ý Thọ Tuệ và Thiện Khoái của A Súc Phật Quốc Kinh, quyển Thượng, vào thời quá khứ cách hơn Phật quốc độ về phương Đông có thế giới tên gọi là A Tỷ La Đề (tiếng Phạn là Abhirati), Đức Đại Mục Như Lai xuất hiện trong thế giới ấy, vì các Bồ Tát thuyết về hạnh Lục Độ Vô Cực. Khi ấy có một vị Bồ Tát nhân khi nghe pháp bèn phát tâm vô thượng chân chính; Đức Đại Mục Như Lai thấy vậy rất hoan hỷ nên ban cho hiệu là A Súc.
Bồ Tát A Súc thành Phật ở thế giới A Tỷ La Đề, cho đến hiện tại vẫn còn đang thuyết pháp tại quốc độ của Ngài. Hơn nữa, lại căn cứ vào Phẩm Hóa Thành Dụ của Pháp Hoa Kinh, khi chưa xuất gia, đức Đại Thông Trí Thắng Phật có 16 vương tử, về sau tất cả đều xuất gia làm Sa Di; trong đó người con thứ nhất tên Trí Tích, tức là A Súc, thành Phật tại nước Hoan Hỷ ở phương Đông.
2. Giữ trọn lời nguyện qua nhiều đời
Phẩm Phát Ý Thọ Tuệ, A-súc Phật Quốc Kinh chép lại lời thọ kí rằng:
“Này Xá-lợi-phất! Vị Tì-kheo đó đã chuẩn bị áo giáp Tứ hoằng đại nguyện, là Đại Bồ-tát mới phát khởi ý ấy, cho nên đối với tất cả nhân loại, loài côn trùng nhỏ bé không có tâm sân hận, cũng không có hận thù.
Xá-lợi-phất! Vị Bồ-tát khi ấy vì không còn sân hận nên mới gọi là A-súc vì không còn hận thù nên trụ nơi đất A-súc. Đức Đại Mục Như Lai Vô Sở Trước Đẳng Chính Giác cũng hoan hỷ gọi tên này. Tứ Thiên Vương cũng hoan hỷ gọi tên ấy, trời Đế Thích và Phạm Tam Bát cũng hoan hỷ gọi tên ấy…”
3. Thành Phật tại cõi Diệu Hỷ
Bi Hoa Kinh quyển 4 có ghi rằng đức A Di Đà Phật trong thời quá khứ khi làm vua Vô Tránh Niệm, có cả ngàn người con, trong đó người con thứ 9 tên Mật Tô, tức là A Súc, thành Phật ở phương Đông, cõi nước tên là Diệu Lạc (hay Diệu Hỷ).
Sau khi phát xong các lời đại nguyện, Đức Đại Mục Như Lai thụ ký cho Bồ-tát sẽ đắc quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, hiệu là A Súc Bệ Như Lai.
Hình tượng và ý nghĩa pháp bảo
Mật giáo lấy đức Phật này làm một trong năm vị Phật ở Kim cương giới, tượng trưng cho Đại viên kính trí. Ngài được tôn trí ở giữa nguyệt luân chính đông, trong năm luân giải thoát, phía trước là Kim cương tát đỏa, phía phải là Kim cương vương bồ tát, phía trái là Kim cương ái bồ tát, phía sau là Kim cương hỉ bồ tát. Hình tượng màu vàng ròng, tay trái nắm lại đặt ở trước rốn, tay phải thõng xuống chạm đất, tức là A súc xúc địa ấn (Ấn A súc chạm đất). Mật hiệu là Bất động kim cương. Chủng tử là (Hūṃ). Hình tam muội da là chày năm chẽ. Chân ngôn là Án á khất sô tì dã hồng.
Đại nguyện
1. Không sân hận: Từ khi phát Bồ-đề tâm đến lúc thành Phật, không khởi sân, ác ý hay tâm chống trái đối với bất kỳ chúng sinh nào.
2. Không phạm mười nghiệp bất thiện: Không sát sinh, trộm cắp, tà hạnh; không nói dối, nói chia rẽ, nói thô ác, nói vô ích; không tham cầu của người, không nuôi ác ý và không giữ tà kiến.
3. Không khởi tâm hại và khinh mạn: Không có ý làm tổn thương, không ganh ghét, không kiêu mạn và không xem thường người khác; giữ tâm bình đẳng trong mọi cuộc gặp gỡ.
4. Đời đời xuất gia: Trong mỗi đời trên đường Bồ Tát, đều rời đời sống gia đình, khoác pháp y và tu phạm hạnh; không để dục lạc thế gian làm gián đoạn chí cầu Nhất thiết trí.
5. Giữ giới không khuyết: Không phạm giới căn bản, không che giấu lỗi, không để giới hạnh suy giảm; nếu không giữ trọn lời này thì xem như trái với chư Phật.
6. Thực hành hạnh đầu-đà: Sống biết đủ, dùng y phấn tảo và ba y, khất thực, tuần tự khất thực, ăn một bữa, ngồi nơi thanh vắng và duy trì các pháp đầu-đà được thọ trì; không cầu tiện nghi vì thân mình.
7. Không phạm tội căn bản và trọng nghiệp: Tránh các hành vi đưa đến quả báo nặng, giữ thân khẩu ý trong sạch và không tạo duyên khiến người khác làm điều ác.
8. Tu sáu ba-la-mật: Bố thí mà không xan tiếc; trì giới không nhiễm ô; nhẫn nhục không sân; tinh tấn không lười; thiền định không tán loạn; phát triển Bát-nhã để trừ vô minh.
9. Thuyết pháp thanh tịnh: Chỉ giảng pháp vì lợi ích và giải thoát của chúng sinh, không vì danh tiếng, cung kính, thực phẩm, y phục hay lợi dưỡng; không mong người nghe đền đáp.
10. Không thoái chuyển khỏi Bồ Tát đạo: Luôn gần gũi và học cùng các Bồ Tát, không hướng tâm đến quả vị chỉ vì giải thoát riêng mình, không bỏ việc thành tựu chúng sinh.
11. Đem căn lành hướng đến Nhất thiết trí: Mọi công đức từ bố thí, trì giới, nghe pháp và tu tập đều hồi hướng Vô thượng Bồ-đề, không dùng để cầu phước báo hữu lậu.
12. Lời nói đi đôi với việc làm: Mỗi điều đã nguyện đều phải được thực hiện; nếu cố ý làm trái thì xem như lừa dối chư Phật hiện đang thuyết pháp trong vô số thế giới.
Chân ngôn
Đà-la-ni thanh tịnh tất cả nghiệp chướng
- Phạn: Namo ratnatrayāya: "oṃ kaṅkani kaṅkani rocani rocani troṭani troṭani trāsani trāsani pratihana pratihana sarvakarmaparamparāṇi me svāhā."
- Ý nghĩa: Kính lễ Tam Bảo.
Giải từng phần:
- Namo → Nam mô: kính lễ, quy kính.
- Ratnatrayāya → Tam Bảo: ratna là “bảo”, traya là “ba”; hình thức cách tặng mang nghĩa “kính lễ Tam Bảo”.
- Oṃ: âm mở đầu phần mật chú.
- Kaṅkani kaṅkani; rocani rocani; troṭani troṭani; trāsani trāsani: các âm tiết được lặp theo cấu trúc đà-la-ni.
- Pratihana pratihana: mang ý ngăn chặn, đẩy lui; được lặp để nhấn mạnh công năng trừ chướng.
- Sarvakarmaparamparāṇi → tất cả các chuỗi nghiệp: sarva là “tất cả”, karma là “nghiệp”, paramparā là “chuỗi tiếp nối”.
- Me: cho tôi, của tôi.
- Svāhā: âm kết chân ngôn, mang nghĩa xác lập hoặc thành tựu lời trì tụng.
Chân ngôn ngắn
- Phạn: "Oṃ Akṣobhya Hūṃ."
- Hán–Việt: "Án A Súc Bệ Hồng."
- Ý nghĩa: "Án, Đức Bất Động, Hồng."
Giải từng phần:
- Oṃ → Án: âm mở đầu chân ngôn, biểu thị sự nhiếp tâm và thân–khẩu–ý giác ngộ.
- Akṣobhya → A Súc/Bất Động: “không thể lay động”, danh hiệu của Ngài.
- Hūṃ → Hồng: chủng âm gắn với Kim Cang bộ và tâm bất động.
Sự tích
Ấn Độ – truyền thống kinh điển Đại thừa
Duy-ma-cật đưa cõi Diệu Hỷ đến trước pháp hội
Bấy giờ Phật bảo ông Xá Lợi Phất : - Có cõi nước tên là Diệu Hỷ, Phật hiệu là Vô Động, ông Duy Ma Cật này ở nước đó chết rồi sinh nơi đây.
Phật biết tâm niệm của chúng hội liền bảo ông Duy Ma Cật rằng :- Xin hiện cõi nước Diệu Hỷ, đức Vô Động Như Lai và các hàng Bồ Tát, Thanh Văn cho chúng hội xem, đại chúng ai cũng đang ngưỡng mộ.
Lúc ấy ông Duy Ma Cật tâm nghĩ rằng : “Ta sẽ không rời chỗ ngồi mà tiếp lấy cõi nước Diệu Hỷ, núi, sông, khe, hang, ao hồ, biển lớn, nguồn suối, các núi Thiết vi, Tu di, và nhựt nguyệt, tinh tú, các cung điện của Thiên, Long, quỉ thần, Phạm Thiên cùng các hàng Bồ Tát, Thanh Văn, thành ấp, tụ lạc, trai gái lớn nhỏ, cho đến Vô Động Như Lai và cây Bồ Đề, hoa sen quí có thể làm Phật sự trong mười phương, ba đường thềm báu từ cõi Diêm Phù Đề đến cõi trời Đạo Lợi, do thềm báu này chư Thiên đi xuống để làm lễ cung kính đức Vô Động Như Lai và nghe thọ kinh pháp; người ở cõi Diêm Phù Đề cũng lên thềm báu đó mà đi lên cõi trời Đạo Lợi để ra mắt chư Thiên kia. Cõi nước Diệu Hỷ thành tựu công đức vô lượng như thế, trên đến trời Sắc Cứu Cánh, dưới đến thủy tế, dùng tay bên hữu chấn lấy rất nhanh như cái bàn tròn của người thợ gốm, rồi đem về cõi Ta bà này cũng như đặng cái tràng hoa, để đưa cho đại chúng xem”. Ông suy nghĩ như vậy rồi liền nhập tam muội (chánh định) hiện sức thần thông lấy tay bên hữu chấn lấy cõi nước Diệu Hỷ để vào cõi Ta bà này. Các Bồ Tát và chúng Thanh Văn cùng các Thiên, nhơn có thần thông đều cất tiếng thưa rằng :
Ngoài ra những người chưa có thần thông không hay không biết mình đi đâu. Cõi nước Diệu Hỷ dù vào cõi Ta bà này mà không thêm không bớt, còn cõi Ta bà này cũng không chật hẹp, vẫn y nguyên như trước.
Bấy giờ Phật Thích Ca Mâu Ni bảo đại chúng rằng : - Các ông hãy xem cõi nước Diệu Hỷ, Phật Vô Động Như Lai, nước đó trang nghiêm tốt đẹp, chúng Bồ Tát hạnh thanh tịnh, hàng đệ tử toàn trong sạch.
Phật bảo : - Các Bồ Tát nếu muốn được cõi Phật thanh tịnh như thế, cần phải học cái đạo của đức Vô Động Như Lai đã làm.
Khi hiện ra cõi nước Diệu Hỷ này, cõi Ta bà có 14 na-do-tha người phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, đều nguyện sanh sang cõi nước Diệu Hỷ. Phật Thích Ca Mâu Ni liền thọ ký cho rằng : - Sẽ đặng sanh sang nước đó.
Bấy giờ nước Diệu Hỷ ở nơi cõi Ta bà này làm những việc lợi ích xong, liền trở về bổn xứ, cả đại chúng đều thấy rõ.
Phật bảo ông Xá Lợi Phất : - Ông có thấy cõi nước Diệu Hỷ và đức Phật Vô Động đấy chăng ?
- Dạ, bạch đã thấy. Bạch Thế Tôn ! Nguyện tất cả chúng sanh được cõi thanh tịnh như Đức Phật Vô Động và thần thông như ông Duy Ma Cật. Bạch Thế Tôn ! Chúng con được nhiều lợi lành, được thấy người này (Duy Ma Cật) gần gũi cúng dường. Còn những chúng sanh hoặc hiện tại đây, hoặc sau khi Phật diệt độ mà nghe kinh này cũng được lợi lành, huống lại nghe rồi tin hiểu, thọ trì, đọc tụng giải nói, đúng như pháp tu hành. Nếu có người tay cầm được kinh điển này thì đã được kho tàng Pháp bảo. Nếu có người đọc tụng giải thích nghĩa lý kinh này, đúng như lời nói tu hành thời được chư Phật hộ niệm. Nếu có ai cúng dường người như thế, tức là cúng dường chư Phật. Nếu có người nào biên chép thọ trì kinh này, chính là trong nhà người đó có Như Lai. Nếu người nghe kinh này mà tùy hỷ thời người đó sẽ được đến bực “Nhứt thiết trí”. Nếu người tin hiểu kinh này cho đến một bài kệ bốn câu rồi giải nói cho người khác nghe, phải biết người đó được thọ ký quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.