Phật A Di Đà
Tên Phạn: Amitābha; Amitāyus
Tên Hán–Việt: A Di Đà Phật, Vô Lượng Quang Phật, Vô Lượng Thọ Phật
Hạnh nguyện: Thành tựu cõi Cực Lạc và tiếp dẫn người chí thành tin nhận, nguyện sinh, niệm danh hiệu Ngài
Vị trí: Tây Phương Cực Lạc (Sukhāvatī)
Dấu hiệu nhận dạng: Thân sắc đỏ hoặc vàng; hai tay kết định ấn nâng bình bát, hoặc nâng bình trường thọ trong hình Amitāyus; hoa sen; cùng Quán Thế Âm và Đại Thế Chí hợp thành Tây Phương Tam Thánh
Nguồn gốc và nhân duyên trong kinh điển
1. Gặp Phật Thế Tự Tại Vương và xuất gia
Này A Nan: ở vô lượng vô số kiếp về đời quá khứ lâu xa có đức Phật xuất thế hiệu là Thế Gian Tự Tại Vương Như Lai, Ứng cúng, Đẳng chánh giác, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự Trượng phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Đức Phật đó trụ thế hóa độ bốn mươi hai kiếp. Vì hàng chư Thiên và nhân loại mà thuyết giảng kinh pháp”.
Bấy giờ có vị vua tên là Thế Nhiêu nghe Phật thuyết giảng đạo lý, tâm sanh hoan hỷ lãnh ngộ, liền phát tâm Vô thượng chơn chánh, bèn trao ngôi vua theo Phật xuất gia làm sa môn hiệu là Pháp Tạng. Tu hạnh Bồ Tát, đức hạnh cao siêu trí huệ dõng mãnh, thâm tín lý giải đệ nhất. Lại có hạnh nguyện thù thắng, định huệ tăng thượng kiên cố bất động, tu hành tinh tấn, đến trước đức Phật đảnh lễ quỳ gối chắp tay tán thán phát đại thệ nguyện, nói kệ rằng:
2. Phát bốn mươi tám đại nguyện
Pháp Tạng Tỳ kheo nói bài kệ này rồi liền bạch đức Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Con nay tu hạnh Bồ Tát, đã phát tâm Vô thượng Chánh giác, giữ nguyện làm Phật, tất được như Phật. Nguyện đức Phật vì con rộng giảng kinh pháp, con xin phụng trì, như pháp tu hành, dứt sạch gốc khổ sanh tử, mau chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Nguyện khi con thành Phật, trí huệ sáng suốt, hào quang sáng chói, tiếng tăm quốc độ lan khắp mười phương; trời người cho đến súc sanh, sanh vào cõi nước con đều thành Bồ Tát. Nguyện con lập đây tất cả đều hơn các cõi Phật khác, có được chăng?”
Đức Phật Thế Gian Tự Tại Vương liền nói với Pháp Tạng rằng: “Thí như có người lường nước biển trải qua nhiều kiếp còn có thể đến đáy. Ngươi đã hết lòng cầu đạo tinh tấn không dứt, quyết sẽ được kết quả! Vậy thì nguyện gì mà chẳng thành?
Ngươi tự suy nghĩ tu phương tiện nào để thành tựu được cõi Phật trang nghiêm. Việc tu hành như thế ngươi nên tự biết, với việc thanh tịnh cõi Phật, ngươi nên tự nhiếp. Pháp Tạng bạch rằng: “ Bạch đức Thế Tôn! Điều ấy quá sâu rộng, không phải cảnh giới của con hiểu được, cúi xin đức Như Lai Ứng Chánh Biến Tri rộng nói vô lượng vi diệu cõi nước của chư Phật, khi con được nghe các pháp như vậy rồi, suy nghĩ tu tập, thệ nguyện con mới được viên mãn”.
Đức Phật Thế Gian Tự Tại Vương biết rõ chí nguyện sâu rộng của Pháp Tạng, liền nói công đức nghiêm tịnh rộng lớn viên mãn cõi nước của hai trăm mười ức đức Phật đúng theo tâm nguyện ông mong muốn, trải qua ngàn ức năm. Bấy giờ Pháp Tạng Tỳ kheo nghe Phật nói rồi, đã được thấy rõ, liền phát nguyện vô thượng thù thắng. Nơi các cõi xấu, đẹp, thiện, ác, của trời người suy lường rốt ráo. Chuyên tâm chọn lựa, kết thành đại nguyện, tinh cần cầu tiến, kính cẩn duy trì tu tập công đức đầy đủ năm kiếp. Ở nơi hai mươi mốt vô số cõi Phật công đức trang nghiêm, rõ ràng thông suốt thành một nước Phật. Khi đã tu tập rồi, lại đến chỗ của Như Lai thế Tự tại Vương, cúi đầu lạy sát chân, nhiễu Phật ba vòng rồi, đứng yên chắp tay bạch đức Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Con đã thành tựu viên mãn hạnh nguyện trang nghiêm thanh tịnh nước Phật”.
3. Thành Phật và kiến lập cõi Cực Lạc
Này A Nan! Pháp Tạng Tỳ kheo tu hạnh Bồ Tát, tích công lũy đức vô lượng vô biên trong tất cả pháp mà được tự tại, không thể dùng lời diễn tả hết chỗ phát thệ, thành tựu viên mãn như thật an trụ cụ túc trang nghiêm, oai đức rộng lớn thanh tịnh cõi Phật được.
Tôn giả A Nan nghe đức Phật nói lời ấy rồi, cung kính thưa rằng: Bạch đức Thế Tôn! Pháp Tạng Bồ Tát chứng Bồ đề là đã thành Phật và nhập diệt rồi hay chưa thành Phật, hay đã thành Phật hiện ở thế giới khác?
Đức Thế Tôn nói: “Đức Phật Như Lai kia, đến không chỗ đến, đi không chỗ đi, không sanh không diệt, không có quá hiện vị lai, chỉ có một nguyện độ sanh. Hiện ở phương Tây cách Diêm phù đề này mười vạn ức cõi Phật, thế giới đó gọi là Cực Lạc, Pháp Tạng thành Phật hiệu là A Di Đà. Thành Phật đến nay đã mười kiếp, hiện đang thuyết pháp, có vô lượng vô số chúng Bồ Tát, Thanh văn cung kính vây quanh”.
4. Đức Phật Thích Ca chỉ dạy pháp vãng sinh
Bấy giờ đức Phật bảo ngài Trưởng lão Xá-Lợi-Phất rằng: "Từ đây qua phương Tây quá mười muôn ức cõi Phật, có thế giới tên là Cực Lạc, trong thế giới đó có đức Phật hiệu là A Di Đà hiện nay đương nói pháp.
Xá Lợi Phất! Cõi đó vì sao tên là Cực lạc?
Vì chúng sanh trong cõi đó không có bị những sự khổ, chỉ hưởng những điều vui, nên nước đó tên là Cực Lạc.
Xá-Lợi-Phất! Nơi ý ông nghĩ sao? Đức Phật đó vì sao hiệu là A Di Đà?
Xá-Lợi-Phất! Đức Phật đó, hào quang sáng chói vô lượng, soi suốt các cõi nước trong mười phương không bị chướng ngại vì thế nên hiệu là A Di Đà.
Xá-Lợi-Phất! Đức Phật đó và nhân dân của Ngài sống lâu vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp, nên hiệu là A Di Đà.
Xá-Lợi-Phất! Đức Phật A Di Đà thành Phật nhẫn lại đến nay, đã được mười kiếp.
Xá-Lợi-Phất! Chẳng có thể dùng chút ít thiện căn phước đức nhơn duyên mà được sanh về cõi đó.
Xá-Lợi-Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe nói đức Phật A Di Đà, rồi chấp trì danh hiệu của đức Phật đó, hoặc trong một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bẩy ngày, một lòng không tạp loạn.
Thời người đó đến lúc lâm chung đức Phật A Di Đà cùng hàng Thánh Chúng hiện thân ở trước người đó.
Người đó lúc chết tâm thần không điên đảo, liền được vãng sanh về cõi nước Cực Lạc của đức Phật A Di Đà.
Hình tượng và ý nghĩa pháp bảo
Một thủ ấn khác cũng hay được thể hiện trong tư thế đứng là ấn vô uý abhayamudrā (MUDRA của sự phòng hộ khỏi sợ hãi và nguy hiểm).
Ngày vía
- Ngày mùng 17 tháng 11: vía Đức Phật A Di Đà
Đại nguyện
1. Không có ba đường dữ: Nguyện trong cõi nước của Ngài không có địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh; nếu còn ba đường ấy, Ngài không thành Chánh giác.
2. Không trở lại đường dữ: Nguyện người và chư thiên sinh về cõi ấy, sau khi mạng chung không còn đọa vào ba đường dữ.
3. Thân sắc vàng ròng: Nguyện người và chư thiên trong cõi nước đều có thân sắc như vàng ròng.
4. Hình sắc đồng đều: Nguyện người và chư thiên đều có dung mạo trang nghiêm, không phân chia đẹp xấu.
5. Biết rõ đời trước: Nguyện người và chư thiên đều có túc mạng trí, nhớ biết ít nhất trăm nghìn ức na-do-tha kiếp quá khứ.
6. Được thiên nhãn: Nguyện người và chư thiên đều có thiên nhãn, thấy ít nhất trăm nghìn ức na-do-tha cõi Phật.
7. Được thiên nhĩ: Nguyện người và chư thiên đều có thiên nhĩ, nghe và ghi nhớ giáo pháp của ít nhất trăm nghìn ức na-do-tha Đức Phật.
8. Biết tâm chúng sinh: Nguyện người và chư thiên đều có tha tâm trí, biết tâm niệm của chúng sinh trong ít nhất trăm nghìn ức na-do-tha cõi Phật.
9. Được thần túc: Nguyện người và chư thiên đều có thần túc, trong một niệm đi qua ít nhất trăm nghìn ức na-do-tha cõi Phật.
10. Không chấp thân mình: Nguyện người và chư thiên không khởi ý tưởng tham chấp thân thể là “ta” và “của ta”.
11. Trụ chánh định tụ: Nguyện người và chư thiên đều an trụ trong hàng chánh định, chắc chắn tiến đến Niết-bàn.
12. Ánh sáng vô lượng: Nguyện quang minh của Ngài không có giới hạn, chiếu đến vô số cõi Phật.
13. Thọ mạng vô lượng: Nguyện thọ mạng của Ngài không có giới hạn, vượt ngoài số kiếp có thể tính kể.
14. Thanh văn vô số: Nguyện số lượng Thanh văn trong cõi nước nhiều đến mức hàng Thanh văn và Duyên giác trong tam thiên đại thiên thế giới cùng tính đếm suốt trăm nghìn kiếp cũng không biết hết.
15. Thánh chúng sống lâu: Nguyện người và chư thiên trong cõi nước có thọ mạng không hạn lượng, trừ khi họ tự tại rút ngắn theo bản nguyện riêng để hóa độ.
16. Không nghe tên bất thiện: Nguyện trong cõi nước không còn nghe đến tên gọi của các việc ác.
17. Chư Phật xưng danh: Nguyện vô số chư Phật trong mười phương đều ca ngợi và xưng danh hiệu của Ngài.
18. Mười niệm được vãng sinh: Nguyện chúng sinh mười phương chí tâm tin nhận, muốn sinh về cõi Ngài và nhớ nghĩ đến Ngài cho đến mười niệm đều được vãng sinh; trừ người phạm năm nghịch và phỉ báng Chánh pháp.
19. Hiện đến tiếp dẫn: Nguyện chúng sinh mười phương phát Bồ-đề tâm, tu các công đức và chí thành cầu sinh Cực Lạc, khi lâm chung được Ngài cùng thánh chúng hiện đến trước mặt.
20. Hồi hướng chắc được sinh: Nguyện chúng sinh mười phương nghe danh Ngài, chuyên nhớ cõi nước, vun trồng căn lành và chí tâm hồi hướng cầu sinh thì cuối cùng được vãng sinh.
21. Đủ ba mươi hai tướng: Nguyện người và chư thiên trong cõi nước đều đầy đủ ba mươi hai tướng của bậc đại nhân.
22. Một đời thành Phật: Nguyện các Bồ-tát từ cõi khác sinh về Cực Lạc đều đạt Nhất sinh bổ xứ; ngoại trừ những vị theo bản nguyện tự tại đi khắp các cõi, cúng dường chư Phật và cứu độ chúng sinh theo hạnh Phổ Hiền.
23. Cúng dường khắp chư Phật: Nguyện Bồ-tát trong cõi nước nhờ thần lực của Ngài có thể trong thời gian một bữa ăn đi đến vô số cõi, cúng dường chư Phật.
24. Vật cúng tùy ý hiện: Nguyện Bồ-tát muốn cúng dường chư Phật thì mọi phẩm vật đúng như ý đều hiện đủ.
25. Thuyết pháp bằng Nhất thiết trí: Nguyện Bồ-tát trong cõi nước có thể thuyết pháp bằng trí biết khắp.
26. Được thân Na-la-diên: Nguyện Bồ-tát trong cõi nước có thân bền chắc như kim cương của lực sĩ Na-la-diên.
27. Muôn vật trang nghiêm: Nguyện người, trời và mọi cảnh vật trong cõi nước có hình sắc vi diệu, sáng đẹp vượt khả năng mô tả; dù có thiên nhãn cũng không thể phân biệt và tính kể hết.
28. Thấy cây Bồ-đề: Nguyện tất cả Bồ-tát trong cõi nước, kể cả người công đức còn ít, đều thấy cây Bồ-đề cao lớn, tỏa ánh sáng và vô số màu sắc.
29. Được trí và biện tài: Nguyện Bồ-tát trong cõi nước khi thọ trì, đọc tụng và giảng kinh đều đạt trí tuệ cùng biện tài.
30. Trí biện vô hạn: Nguyện trí tuệ và biện tài của Bồ-tát trong cõi nước không có giới hạn.
31. Cõi nước soi khắp: Nguyện cõi nước thanh tịnh sáng suốt, soi hiện vô số thế giới chư Phật khắp mười phương rõ như mặt hiện trong gương.
32. Bảo vật và hương thơm: Nguyện từ mặt đất đến hư không, cung điện, ao, dòng nước, hoa và cây đều do vô số báu cùng trăm nghìn hương thơm tạo thành; hương lan khắp mười phương khiến Bồ-tát ngửi thấy liền tu Phật hạnh.
33. Ánh sáng làm thân tâm nhu hòa: Nguyện chúng sinh trong vô số cõi Phật được quang minh của Ngài chạm đến thì thân tâm trở nên mềm mại, an vui hơn người và chư thiên.
34. Nghe danh được pháp nhẫn: Nguyện chúng sinh trong vô số cõi Phật nghe danh Ngài thì đạt Vô sinh pháp nhẫn và các đà-la-ni sâu xa.
35. Không còn thọ thân nữ: Nguyện người nữ trong vô số cõi Phật nghe danh Ngài, vui tin, phát Bồ-đề tâm và nhàm chán thân nữ thì sau khi mạng chung không còn thọ thân nữ.
36. Thường tu phạm hạnh: Nguyện Bồ-tát ở các cõi khác nghe danh Ngài, sau khi mạng chung luôn tu phạm hạnh cho đến khi thành Phật.
37. Được trời người kính lễ: Nguyện chư thiên và loài người ở vô số cõi nghe danh, gieo năm vóc kính lễ, vui tin và tu Bồ-tát hạnh thì được trời người tôn kính.
38. Y phục tự nhiên hiện: Nguyện người và chư thiên trong cõi nước vừa khởi ý muốn liền có y phục tốt đẹp đúng pháp tự nhiên hiện trên thân, không cần may, nhuộm, giặt hay sửa.
39. Hưởng an lạc thanh tịnh: Nguyện người và chư thiên trong cõi nước hưởng niềm vui thanh tịnh như vị tỳ-kheo đã dứt hết phiền não.
40. Thấy cõi Phật trong cây báu: Nguyện Bồ-tát trong cõi nước muốn thấy các cõi Phật trang nghiêm ở mười phương thì đều thấy rõ trong cây báu như nhìn mặt mình trong gương.
41. Các căn đầy đủ: Nguyện Bồ-tát ở cõi khác nghe danh Ngài thì các căn không bị khiếm khuyết cho đến khi thành Phật.
42. Được giải thoát tam-muội: Nguyện Bồ-tát ở cõi khác nghe danh Ngài thì đạt thanh tịnh giải thoát tam-muội; trụ trong định ấy, chỉ một niệm đã cúng dường vô số chư Phật mà tâm không mất định.
43. Sinh vào nhà tôn quý: Nguyện Bồ-tát ở cõi khác nghe danh Ngài, sau khi mạng chung được sinh vào gia đình tôn quý, có thắng duyên tiếp tục Bồ-tát hạnh.
44. Đủ căn lành Bồ-tát: Nguyện Bồ-tát ở cõi khác nghe danh Ngài thì vui mừng, thực hành Bồ-tát hạnh và đầy đủ các căn lành.
45. Được Phổ đẳng tam-muội: Nguyện Bồ-tát ở cõi khác nghe danh Ngài thì đạt Phổ đẳng tam-muội; trụ trong định ấy thường thấy vô số chư Phật cho đến khi thành Phật.
46. Tùy nguyện nghe pháp: Nguyện Bồ-tát trong cõi nước tùy chí nguyện mà tự nhiên nghe được đúng pháp mình muốn nghe.
47. Đạt bất thoái chuyển: Nguyện Bồ-tát ở cõi khác nghe danh Ngài thì đạt địa vị không còn thoái chuyển trên đường giác ngộ.
48. Được ba pháp nhẫn: Nguyện Bồ-tát ở cõi khác nghe danh Ngài thì đạt ba pháp nhẫn và không còn thoái chuyển đối với giáo pháp của chư Phật.
Chân ngôn
Danh hiệu
- Phạn: "Namo ’mitābhāya buddhāya."
- Hán–Việt: "Nam mô A Di Đà Phật."
- Ý nghĩa: "Kính lễ Đức Phật Vô Lượng Quang."
Giải từng phần:
- Namo → Nam mô: kính lễ, quy kính; là dạng biến âm của namas trong câu.
- Amita → vô lượng: không thể đo lường.
- Ābha → quang: ánh sáng; Amitābha hợp nghĩa là “Vô Lượng Quang”.
- Amitābhāya → A Di Đà: danh hiệu Amitābha ở cách tặng, chỉ đối tượng được kính lễ.
- Buddhāya → Phật: “đối với Đức Phật”, cũng ở cách tặng.
Chân ngôn Amitābha
- Tây Tạng: "Oṃ amideva hrīḥ."
- Ý nghĩa: "Án, Đức A Di Đà, Hri."
Giải từng phần:
- Oṃ: âm mở đầu chân ngôn, biểu thị sự nhiếp tâm và thân–khẩu–ý giác ngộ.
- Amideva: dạng danh hiệu phụng tụng trong nghi quỹ Tây Tạng, tương ứng với Đức Amitābha.
- Hrīḥ: chủng âm của Amitābha và Liên Hoa bộ.
Vãng sinh Tịnh độ thần chú
- Hán–Việt: Nam mô a di đa bà dạ, đa tha già đa dạ, đa địa dạ tha, a di rị đô bà tỳ, a di rị đa tất đam bà tỳ, a di rị đa tỳ ca lan đế, a di rị đa tỳ ca lan đa, già di nị, già già na, chỉ đa ca lệ, ta bà ha.
- Ý nghĩa: Kính lễ Đức Như Lai Vô Lượng Quang.
Giải từng phần:
- Nam mô: kính lễ, quy kính.
- A di đa bà dạ: đối với Đức Vô Lượng Quang, tức Đức Phật A Di Đà.
- Đa tha già đa dạ: đối với Đức Như Lai.
- Đa địa dạ tha: “như vầy”, câu dẫn vào phần chính của đà-la-ni.
- Phần từ “a di rị đô bà tỳ” đến “ta bà ha”: tâm chú của đà-la-ni.
Tâm chú Amitāyus
- Phạn: "Oṃ amaraṇi jīvantiye svāhā."
- Ý nghĩa: Nguyện sự sống bất tử, trường thọ được thành tựu.
Giải từng phần:
- Oṃ: âm mở đầu chân ngôn, biểu thị sự nhiếp tâm.
- Amaraṇi: liên hệ trạng thái không chết, thoát khỏi sự suy giảm thọ mạng.
- Jīvantiye: liên hệ sự sống và việc duy trì sinh lực.
- Svāhā: âm kết, nguyện pháp được thành tựu và an lập.
Chân ngôn Vô Lượng Thọ Trí
- Phạn: "Oṃ puṇye puṇye mahāpuṇye aparimitāyuḥpuṇyajñānasaṃbhāropacite svāhā."
- Ý nghĩa: Nguyện công đức lớn, thọ mạng vô lượng cùng hai tư lương công đức và trí tuệ được tích tập, tăng trưởng và thành tựu.
Giải từng phần:
- Oṃ: âm mở đầu chân ngôn.
- Puṇye puṇye: công đức, phước đức; sự lặp lại dùng để nhấn mạnh.
- Mahāpuṇye: công đức lớn lao.
- Aparimitāyuḥ: thọ mạng vô lượng, không thể đo lường.
- Puṇya-jñāna-saṃbhāra: hai tư lương công đức và trí tuệ.
- Upacite: đã được tích tập, vun bồi hoặc tăng trưởng.
- Svāhā: âm kết, nguyện pháp được thành tựu và an lập.
Sự tích
Ấn Độ
Hoàng hậu Vi Đề Hy thấy cõi Cực Lạc
Vi Đề Hi bị giam nhốt rồi, sầu lo tiều tụy, vói hướng về núi Kỳ Xà Quật lạy Phật mà nói rằng: " Ngày trước Đức Như Lai Thế Tôn thường hay sai Tôn giả A Nan đến thăm hỏi tôi. Nay tôi sầu lo, đức Thế Tôn oai trọng không sao được thấy. Duy nguyện đức Thế Tôn sai các Tôn giả Đại Mục Kiền Liên và A Nan đến cho tôi được thấy. Nói xong, Vi Đề Hi buồn khóc, lệ rơi như mưa, vói hướng lạy Phật, trong khoảng thời gian chưa cất đầu lên.
Đức Thế Tôn ở núi Kỳ Xà Quật biết tâm niệm của Vi Đề Hi, liền bảo Đại Mục Kiền Liên và A Nan đi từ trên hư không. Đức Phật từ núi Kỳ Xà Quật ẩn mất, hiện ra nơi Vương cung.
Vi Đề Hi lạy rồi ngước đầu lên, thấy Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni Phật, thân màu tử kim, ngồi trên hoa sen trăm báu, Tôn giả Đại Mục Kiền Liên hầu bên tả, Tôn giả A Nan hầu bên hữu. Trong hư không hàng Phạm Vương, Đế Thích, Hộ Thế Tứ Vương mưa hoa trời khắp nơi để cúng dường.
Vi Đề Hi thấy Phật Thế Tôn, liền tự bứt chuỗi ngọc, cả thân mình gieo xuống đất kêu khóc hướng Phật mà bạch rằng: " Bạch đức Thế Tôn! Xưa tôi tội gì mà sanh đứa ác tử ấy. Đức Thế Tôn lại có nhơn duyên gì mà cùng làm quyến thuộc với Đề Bà Đạt Đa. Duy nguyện đức Thế Tôn vì tôi mà nói rộng những xứ không có lo khổ tôi sẽ vãng sanh, tôi không còn thích cõi Diêm phù Đề trược ác thế nầy.Xứ trược ác nầy đầy những địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, nhiều khối bất thiện. Nguyện tôi đời vị lai chẳng nghe danh từ ác, chẳng thấy người ác. Nay tôi hướng về Thế Tôn, năm vóc gieo xuống đất, cầu thương cho tôi sám hối. Duy nguyện Phật Nhựt dạy tôi quán nơi xứ nghiệp hành thanh tịnh".
Đức Thế Tôn phóng ánh sáng giữa hai mày, ánh sáng ấy màu chơn kim, chiếu khắp mười phương vô lượng thế giới, trở về trụ tại đỉnh đầu Phật, hóa làm đài chơn kim lớn như núi Tu Di, bao nhiêu quốc độ thanh tịnh vi diệu của mười phương chư Phật đều hiện rõ trong đài vàng ấy.
Hoặc có quốc độ thất bửu hiệp thành. Hoặc có quốc độ thuần là liên hoa. Lại có quốc độ như tự tại Thiên cung. Lại có quốc độ như gương pha lê. Có vô lượng quốc độ chư Phật như vậy trang nghiêm xinh đẹp, khiến Vi Đề Hi được thấy.
Vi Đề Hi bạch Phật rằng: " Bạch đức Thế Tôn! Dầu các Phật độ ấy đều thanh tịnh đều có quang minh. Nay tôi thích sanh về Cực Lạc thế giới, chỗ của đức Phật A Di Đà. Duy nguyện đức Thế Tôn dạy tôi tư duy, dạy tôi chánh thọ".
Đức Phật bảo Vi Đề Hi: " Nay Thái phu nhơn có biết chăng? Phật A Di Đà cách đây chẳng xa, bà nên nhiếp niệm quán kỹ cõi nước ấy thì tịnh nghiệp được thành.
Nay ta sẽ vì bà mà nói rộng các pháp quán, cùng khiến đời vị lai tất cả hàng phàm phu, những người muốn tu tịnh nghiệp được thọ sanh Tây Phương Cực Lạc quốc độ .
Trung Hoa
Huệ Viễn và hội niệm Phật tại Lô Sơn
Các bậc Cao tăng, những hành danh sĩ, đến xin dự chúng tu tập theo Huệ Viễn, mỗi ngày thêm nhiều. Trong đó có cả những vị lỗi lạc tài hoa.
Khu vực Lô Sơn có rất nhiều rắn độc, từ trước đã làm nguy hại đến tánh mạng dân cư ở vùng ấy. Nhưng từ khi có chùa Đông Lâm, các loài rắn dữ đều trở nên hiền lành, ngày lẫn đêm thường vây quanh Đại Sư để nghe giảng kinh. Bởi trường hợp này, Đại Sư được người đương thời tôn hiệu là Bích Xà Thánh Giả.
Bạch Liên Xã do Đại Sư thành lập, quy tụ hơn ba ngàn người, trong đây có 123 vị được tôn là Hiền.
Năm Nghĩa Hy thứ mười hai, đêm 30 tháng 7, Sư ngồi tịnh nơi Bát Nhã Đài. Lúc vừa mở mắt xuất định, bỗng thấy Phật A Di Đà thân sắc vàng đầy khắp hư không. Trong ánh viên quang hiện vô số hóa Phật, mỗi vị đều có Quan Âm, Thế Chí hầu hai bên tả hữu. Lại thấy nước chảy chia thành mười bốn ngọn quanh lộn lên xuống, phóng ra những tia sáng đẹp, diễn nói các pháp: Khổ, Không, Vô Thường, Vô Ngã. Đức Phật bảo Sư rằng: "Ta dùng sức bản nguyện đến đây an ủi ngươi. Sau bảy ngày, ngươi sẽ được sanh về Cực Lạc". Đại sư lại thấy các bạn đồng tu ở Liên Xã đã viên tịch trước, như các ông: Phật-đà-da-xá, Huệ Trì, Huệ Vĩnh, Lưu Di Dân... đều đứng phía sau Phật. Các vị ấy bước đến trước, chắp tay chào và nói: "Ngài phát tâm sớm hơn chúng tôi nay sao lại về muộn như thế?".
Hôm sau, Sư cảm bịnh nhẹ, gọi đệ tử là Pháp Tịnh, Huệ Bảo đến thuật lại và nói: "Ta ở Lô Sơn này, trong mười một năm đầu, đã ba lần thấy thánh tướng cùng các kỳ tích. Nay lại có điềm như thế, tất duyên sanh Tịnh Độ đã đến thời kỳ!" Rồi dặn bảo các việc sau, soạn quy chế để răn nhắc đại chúng cùng nhau sách tiến tu tập.
Trong thời gian Sư lâm bịnh, chư Tăng khuyên Sư phương tiện dùng thuốc rượu để điều trị. Sư khước từ bảo: "Thân người như huyễn, nguyện giữ giới luật hoàn toàn thanh tịnh". Các Đại đức lại thỉnh Sư dùng nước cơm, Đại Sư nói không thể được vì đã quá ngọ. Chư Trưởng lão yêu cầu Sư tạm dùng mật. Đại Sư bảo hãy dở Luật tìm xem có đề cập đến điều này hay không? Các Luật Sư tra cứu chưa xong, Sư đã viên tịch. Lúc ấy nhằm ngày mùng 6 tháng 8 năm Bính Thìn, niên hiệu Nghĩa Hy thứ mười hai, thọ 83 tuổi.
Nhật Bản
Pháp Nhiên chọn hạnh chuyên niệm
Năm 1150, Pháp Nhiên rời núi Hiei đến chùa Kurodani yên tĩnh hơn với mong muốn sống đời ẩn tu. Theo thời gian, ông ngày càng không còn thỏa mãn với những giáo pháp đang được giảng dạy trên núi Hiei. Khi hai mươi bốn tuổi, ông đến học tại Saga, rồi tiếp tục đến Nara, lưu lại tại các ngôi chùa như Kōfuku-ji và Tōdai-ji. Dù vậy, ông vẫn chưa tìm được câu trả lời cho những trăn trở của mình và cuối cùng quay trở lại các thư viện trên núi Hiei để tiếp tục nghiên cứu.
Trong giai đoạn này, Pháp Nhiên bị tác động sâu sắc bởi sự tương phản giữa cảnh khổ đau của người dân bình thường với đời sống của giới tăng lữ ưu tú và những ngôi chùa nguy nga tráng lệ. Ông bắt đầu tìm kiếm một con đường giải thoát mà tất cả mọi người đều có thể thực hành được, chứ không chỉ dành riêng cho giới tinh hoa hoặc hàng tăng sĩ.
Người ta kể rằng trong thời kỳ này, Pháp Nhiên đã đọc toàn bộ Đại tạng kinh Trung Quốc tới năm lần. Ông đặc biệt xúc động khi, ở tuổi bốn mươi ba, đọc được tác phẩm Chú giải Kinh Quán Vô Lượng Thọ của vị Tịnh Độ tông Trung Quốc Thiện Đạo (613–681).
Ông đặc biệt ấn tượng với đoạn văn sau:
“Nhất tâm chuyên chú xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà khi đi, đứng, ngồi hoặc nằm, không kể thời gian dài hay ngắn; suốt đời không gián đoạn việc niệm Phật. Đây được gọi là chánh định nghiệp vì tương ứng với bản nguyện căn bản của đức Phật A Di Đà.”
Trước đó, niệm Phật thường được thực hành cùng với nhiều pháp môn khác; nhưng Thiện Đạo là người đầu tiên chủ trương rằng chỉ riêng niệm Phật đã đủ. Sự nhận thức và thấu hiểu mới mẻ này đã khiến Pháp Nhiên rời núi Hiei vào năm 1175 và chuyên tâm vào pháp môn niệm Phật nhất tâm.