Bồ Tát Nguyệt Quang

Tên Phạn: Candraprabha

Tên Hán–Việt: Nguyệt Quang, Nguyệt Quang Biến Chiếu

Hạnh nguyện: Gìn giữ chánh pháp của Đức Dược Sư và trợ duyên cho chúng sinh trong pháp hội Dược Sư

Vị trí: Một trong hai vị Bồ-tát thượng thủ tại thế giới Tịnh Lưu Ly; cùng Dược Sư Phật và Nhật Quang Bồ-tát hợp thành Đông Phương Tam Thánh

Dấu hiệu nhận dạng: Nguyệt luân hoặc trăng lưỡi liềm; đứng đối xứng với Nhật Quang Bồ-tát hai bên Dược Sư Phật

Nguồn gốc và nhân duyên trong kinh điển

1. Trở thành vị thượng thủ tại thế giới Tịnh Lưu Ly

Lại nữa, Mạn Thù Thất Lợi, đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai kia khi còn tu hành đạo Bồ tát phát những lời nguyện rộng lớn và những công đức trang nghiêm ở cõi Ngài, dầu ta nói mãn một kiếp hay hơn một kiếp cũng không thể nói ngay rằng cõi Phật kia một bề thanh tịnh không có đàn bà, cũng không có đường dữ và cả đến tiếng khổ cũng không. Ở cõi ấy đất toàn bằng chất lưu ly, đường đi có dây bằng vàng giăng làm ranh giới, còn thành quách cung điện, mái hiên cửa sổ cho đến các lớp bao phủ cũng toàn bằng đồ thất bảo làm ra. Thật chẳng khác gì những công đức trang nghiêm ở cõi Tây Phương Cực Lạc.

Cõi Phật ấy có hai vị đại Bồ tát là Nhựt Quang biến chiếu, và Nguyệt Quang biến chiếu, chính là hai bực thượng thủ trong vô lượng, vô số Bồ tát và lại là những bậc sắp bổ xứ làm Phật. Hai vị này đều giữ gìn kho báu chánh pháp của Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai.

Hình tượng và ý nghĩa pháp bảo

Cũng gọi Nguyệt tịnh bồ tát, Nguyệt quang biến chiếu bồ tát. Vị Bồ tát thị giả của đức Dược sư Như lai. Cứ theo kinh Dược sư Như lai bản nguyện, thì vị Bồ tát này cùng với bồ tát Nhật quang (Phạm: Sūryaprabha) đều là bậc Thượng thủ trong vô lượng vô số Bồ tát sẽ lần lượt được bổ xứ thành Phật. Ngoài ra, theo Tu Dược sư nghi quĩ bố đàn pháp, bồ tát Nguyệt quang có thân màu trắng, ngồi trên tòa hình con ngỗng, tay cầm mặt trăng.

Những hình tướng phổ biến

Trong Mạn đồ la Kim cương giới, bồ tát Nguyệt quang ngồi ở mé tây của viện thứ 2 trong hội Vi tế. Thân hình màu trắng, tay trái nắm lại để ở ngang hông, tay phải cầm vầng trăng sáng hoặc cầm hoa sen, trên hoa có nửa vầng trăng. Mật hiệu là Thanh lương kim cương, hình Tam muội da là hình bán nguyệt.

Trong Mạn đồ la Thai tạng giới, vị Bồ tát này ngồi ở phía bên phải bồ tát Diệu cát tường, khoảng giữa bồ tát Diệu âm và bồ tát Vô cấu quang trong viện Văn thù. Tay phải nắm lại, cầm hoa sen để ở ngang hông, trên hoa sen có nửa vành trăng; tay trái cầm hoa sen búp để ở ngang ngực, ngồi kết già trên đài sen. Mật hiệu là Uy đức kim cương, hình Tam muội da là hoa sen xanh, trên hoa đặt hình bán nguyệt.

Đại nguyện

1. Thọ trì chánh pháp Dược Sư: Cùng Nhật Quang Biến Chiếu thọ trì kho tàng chánh pháp của Đức Dược Sư.

2. Làm thượng thủ chúng Bồ-tát Tịnh Lưu Ly: Đứng đầu vô lượng Bồ-tát trong cõi của Đức Dược Sư và trợ giúp việc lưu truyền pháp môn của Ngài.

3. Hộ trì người tu Đại Bi Tâm Đà-la-ni: Đến chứng minh và hộ trì người phát Bồ-đề tâm, giữ giới, khởi tâm bình đẳng và tụng trì đúng pháp.

4. Nói đà-la-ni trừ chướng: Trao bài đà-la-ni để trừ chướng nạn, bệnh đau và sợ hãi, đồng thời trợ thành tựu các thiện pháp.

Chân ngôn

Đà-la-ni Nguyệt Quang Bồ-tát

Giải từng phần:

Xưng niệm

Giải từng phần: