Bồ Tát Kim Cang Thủ
Tên Phạn: Vajrapāṇi
Tên Hán–Việt: Kim Cang Thủ, Chấp Kim Cang, Bí Mật Chủ
Hạnh nguyện: Hộ trì chánh pháp, dẹp các chướng duyên và làm hiển lộ năng lực giác ngộ
Vị trí: Một trong Tam Bộ Chủ: Văn Thù biểu trưng trí tuệ, Quán Thế Âm biểu trưng đại bi, Kim Cang Thủ biểu trưng năng lực giác ngộ
Dấu hiệu nhận dạng: Chày kim cang; thân xanh lam; tư thế phẫn nộ đứng giữa lửa trí tuệ
Nguồn gốc và nhân duyên trong kinh điển
1. Vị dạ-xoa cầm chày hộ trì Đức Phật
Vị Bồ tát này cũng đặc biệt được dùng để gọi Lực sĩ Kim cương mật tích, như kinh Tăng nhất a hàm quyển 22 nói, Lực sĩ Kim cương mật tích cầm chày kim cương đứng ở phía sau đức Như lai.
Đại nhật kinh sớ quyển 1 thì nói, Kim cương thủ theo nghĩa nông cạn là chỉ cho Dạ xoa cầm chày kim cương, thường theo hầu đức Phật; còn theo nghĩa sâu xa thì chỉ cho Kim cương tát đỏa, biểu thị cho tam mật thân, ngữ, ý của đức Đại nhật Như lai.
2. Bồ Tát cầm chày trong Mật giáo
Cũng gọi: Chấp kim cương bồ tát, Bí mật chủ bồ tát, Kim cương chủ dược xoa tướng. Chỉ cho các vị Bồ tát cầm chày kim cương trong viện Kim cương thủ thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo.
Hình tượng và ý nghĩa pháp bảo
Nhưng trong kinh Bát đại bồ tát mạn đồ la do ngài Bất Không dịch, thì trong 8 vị Bồ tát có 2 bồ tát Phổ hiền và Kim cương thủ khác nhau; bồ tát Kim cương thủ thân mầu xanh, ngồi bán già, đầu đội mũ Ngũ Phật, tay phải cầm chày kim cương, tay trái để ở chỗ thắt lưng; chân ngôn là: Án tông ra phạ sa phạ ha.
Đại nguyện
1. Hiện diện bên người thọ trì: Nguyện cùng quyến thuộc đến nơi có người thọ trì, đọc tụng, cúng dường, biên chép hoặc bảo người khác biên chép danh hiệu bảy Đức Như Lai, đà-la-ni và bản kinh này.
2. Hộ trì người và nơi chốn: Nguyện bảo vệ người gìn giữ kinh cùng vua quan ủng hộ pháp hội; che chở làng xóm, đô thị và các miền nơi giáo pháp được lưu truyền.
3. Dẹp các nạn duyên: Nguyện làm lắng dịu bệnh tật, chết yểu, hiểm nạn nơi hoang vắng, sự đe dọa của kẻ thù, tranh cãi và xung đột; giúp tăng trưởng an vui, phương tiện sinh sống và mùa màng.
4. Thành tựu lợi ích chính đáng: Sau khi được bảy Đức Như Lai cho phép tuyên mật chú, Ngài nguyện giúp người thọ trì đúng pháp hoàn thành những mục đích và ước nguyện thiện lành.
5. Chỉ dạy người cầu thấy Ngài: Nguyện hiện trong mộng và giảng dạy cho người chí thành tạo tượng bảy Đức Như Lai cùng hình Kim Cang Thủ, cúng dường, phát tâm từ lợi ích mọi loài, giữ tám giới và trì đà-la-ni đủ thời khóa được kinh hướng dẫn.
Chân ngôn
Chân ngôn ngắn
- Phạn: "Oṃ Vajrapāṇi Hūṃ."
- Hán–Việt: "Án Phạ Nhật Ra Bá Nị Hồng."
- Ý nghĩa: "Ôm, Bồ Tát Kim Cang Thủ, hum."
Giải từng phần:
- Oṃ → Án: âm mở đầu, nhiếp thân, khẩu và ý.
- Vajrapāṇi → Phạ Nhật Ra Bá Nị: “Đấng cầm kim cang”, danh hiệu của Bồ Tát Kim Cang Thủ.
- Hūṃ → Hồng: chủng tự biểu thị tâm giác ngộ kim cang và năng lực nhiếp phục.
Đà-la-ni trong pháp bảy Đức Dược Sư
- Phạn: "Namaḥ saptānāṃ samyaksaṃbuddhānāṃ | namaḥ sarvavajradharāṇāṃ | tadyathā | oṃ vajre vajre mahāvajre vajrapāśadhāraṇi sama sama samantāpratihatavajre śama śama praśamantu me sarvavyādhayaḥ kuru kuru sarvakarmāvaraṇāni kṣaya samayam anusmara bhagavān vajrapāṇi sarvāśāṃ me paripūraya svāhā."
- Ý nghĩa: "Kính lễ bảy Đức Chính Đẳng Chánh Giác; kính lễ tất cả các bậc trì giữ kim cang; như vầy: ôm, kim cang, kim cang, đại kim cang, đấng nắm giữ dây kim cang; bình đẳng, bình đẳng, kim cang phổ biến không gì ngăn ngại; hãy làm lắng dịu, hãy làm lắng dịu, nguyện mọi bệnh khổ của con đều được dứt lắng; hãy tiêu trừ mọi nghiệp chướng; xin nhớ đến mật nguyện, đấng Thế Tôn Kim Cang Thủ; xin làm viên mãn mọi mong cầu của con, soa-ha."
Giải từng phần:
- Namaḥ saptānāṃ samyaksaṃbuddhānāṃ: kính lễ bảy Đức Chính Đẳng Chánh Giác.
- Namaḥ sarvavajradharāṇāṃ: kính lễ tất cả các bậc trì giữ kim cang.
- Tadyathā: “như vầy”, lời dẫn vào phần chính của đà-la-ni.
- Oṃ: âm mở đầu của đà-la-ni.
- Vajre vajre mahāvajre: kim cang, kim cang, đại kim cang.
- Vajrapāśadhāraṇi: đấng nắm giữ dây kim cang.
- Sama sama: bình đẳng, bình đẳng.
- Samantāpratihatavajre: kim cang phổ biến, không gì ngăn ngại.
- Śama śama: hãy làm lắng dịu, hãy làm lắng dịu.
- Praśamantu me sarvavyādhayaḥ: nguyện mọi bệnh khổ của con đều được dứt lắng.
- Kuru kuru sarvakarmāvaraṇāni kṣaya: hãy làm, hãy làm; hãy tiêu trừ mọi nghiệp chướng.
- Samayam anusmara: xin nhớ đến mật nguyện.
- Bhagavān Vajrapāṇi: đấng Thế Tôn Kim Cang Thủ.
- Sarvāśāṃ me paripūraya: xin làm viên mãn mọi mong cầu của con.
- Svāhā: lời kết biểu thị sự thành tựu và dâng hiến.
Sự tích
Kinh tạng Pāli
Kim Cang Thủ khiến Ambattha trả lời sự thật
- Ambattha, nay ngươi phải trả lời, nay không phải thời ngươi giữ im lặng nữa. Này Ambattha ai được Thế Tôn hỏi đến lần thứ ba một câu hỏi hợp lý mà không trả lời, thời đầu của người ấy sẽ bị bể ra làm bảy mảnh tại chỗ.
Lúc bấy giờ, thần Dạ xoa Vajirapàni đang cầm một chùy sắt to lớn, cháy đỏ, sáng chói đứng trên đầu của thanh niên Ambattha với ý định: "Nếu Thế Tôn hỏi đến lần thứ ba, một câu hỏi hợp lý mà thanh niên Ambattha không trả lời, thời ta sẽ đánh bể đầu nó ra làm bảy mảnh". Chỉ có Thế Tôn và thanh niên Ambattha mới thấy thần Dạ xoa Vajirapàni. Thanh niên Ambattha thấy vị thần ấy liền sợ hãi, hoảng hốt, lông dựng ngược, chỉ tìm sự che chở nơi Thế Tôn, chỉ tìm sự hỗ trợ nơi Thế Tôn, liền cúi rạp mình xuống và bạch Thế Tôn:
Tôn giả Gotama đã nói gì? Mong Tôn giả Gotama nói lại cho.
Ambattha, ngươi nghĩ thế nào? Ngươi có nghe các vị Bà-la-môn, trưởng lão, tôn túc, giáo sư và tổ sư nói đến nguồn gốc của dòng họ Kanhàyanà không? Ai là tổ phụ của dòng họ Kanhàyanà?
Tôn giả Gotama, con đã có nghe, đúng như Tôn giả Gotama đã nói. Chính từ đó nguồn gốc của dòng họ Kanhàyanà. Vị ấy là tổ phụ của dòng họ Kanhàyanà.
Kim Cang Thủ và Niganthaputta Saccaka
-- Này Aggivessana, nay Ông phải trả lời. Nay không phải lúc Ông giữ im lặng nữa. Này Aggivessana, ai được Như Lai hỏi đến lần thứ ba một câu hỏi hợp lý mà không trả lời, thời đầu của người ấy sẽ bị bể ra làm bảy mảnh tại chỗ.
Lúc bấy giờ thần Dạ xoa Vajirapani (Kim Cang Thủ) đang cầm một chùy sắt to lớn, cháy đỏ, sáng chói, đứng trên không trên đầu Niganthaputta Saccaka với ý định: "Nếu Thế Tôn hỏi đến câu hỏi thứ ba, một câu hỏi hợp lý mà Niganthaputta Saccaka không trả lời, thì ta sẽ đánh bể đầu nó ra làm bảy mảnh". Chỉ có Thế Tôn và Niganthaputta Saccaka mới thấy thần Dạ xoa Vajirapani. Niganthaputta Saccaka sợ hãi, hoảng hốt, lông tóc dựng, ngược, chỉ tìm thấy sự che chở nơi Thế Tôn, chỉ tìm thấy sự an ổn nơi Thế Tôn, chỉ tìm thấy sự nương tựa nơi Thế Tôn, liền bạch Thế Tôn:
-- Tôn giả Gotama hãy hỏi tôi, tôi sẽ trả lời.