Bồ Tát Hư Không Tạng

Tên Phạn: Ākāśagarbha

Tên Hán–Việt: Hư Không Tạng, Hư Không Khố

Hạnh nguyện: Giúp người phạm giới phục hồi thanh tịnh, tăng trưởng trí nhớ và thành tựu các thiện nguyện

Vị trí: Một trong Bát Đại Bồ-tát; trong Mật giáo Đông Á còn thuộc Bảo bộ và có hệ thống Ngũ Đại Hư Không Tạng

Dấu hiệu nhận dạng: Bảo châu như ý trên hoa sen, kiếm trí tuệ, thân sắc vàng hoặc trắng, ngồi trong vành trăng

Nguồn gốc và nhân duyên trong kinh điển

1. Hư Không Tạng trong Bát Đại Bồ-tát

Hư Không Tạng là một vị Bồ tát được thờ phụng trong Phật giáo Trung Quốc, Phật giáo Triều Tiên và Phật giáo Nhật Bản, hình tượng của ông được gắn liền với đại chủng (mahābhūta) của không gian (ākāśa). Đôi khi ông còn được biết đến dưới cái tên Gaganagañja, có nghĩa là "viên ngọc quý của bầu trời".

Hư Không Tạng được coi là một trong tám vị đại bồ tát.

Ông đôi khi được coi là anh trai song sinh của bồ tát Địa Tạng, và đã được đề cập tới trong Địa Tạng Vương bồ tát bổn nguyện kinh.

2. Thưa hỏi trong pháp hội cung trời Đao Lợi

Ngoài ra, ông cũng xuất hiện ngắn gọn trong chương cuối của Địa Tạng Vương bồ tát bổn nguyện kinh, thỉnh cầu Đức Phật thuyết giảng về lợi ích của việc xưng tụng cả Kinh và Địa Tạng.

Lúc ngài Địa Tạng Bồ Tát bạch lời nói trên đó vừa xong, trong pháp hội có một vị Bồ Tát tên là Hư Không Tạng bạch cùng đức Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Từ khi con đến cung trời Đao Lợi nầy được nghe đức Như Lai ngợi khen oai thần thế lực của ngài Địa Tạng Bồ Tát. Trong đời sau, hoặc có người thiện nam cùng thiện nữ nào, cho đến tất cả hàng trời, rồng, vân vân nghe kinh điển nầy và nghe danh tự của Địa Tạng Bồ Tát cùng với chiêm lễ hình tượng Địa Tạng Bồ Tát, thời những kẻ ấy được bao nhiêu điều phước lợi? Cúi mong đức Thế Tôn vì tất cả hàng chúng sanh ở hiện tại và vị lai mà nói lược việc ấy cho.”

Đức Phật bảo ngài Hư Không Tạng Bồ Tát: “Lắng nghe! Lắng nghe cho kỹ! Ta sẽ vì ông mà nói rõ việc ấy cho. Trong đời sau, người thiện nam cùng thiện nữ nào thấy hình tượng của ngài Địa Tạng Bồ Tát và nghe kinh nầy, cho đến đọc tụng, dùng hương hoa, đồ ăn món uống, y phục, vật báu mà bố thí cúng dường ngợi khen chiêm lễ thời kẻ ấy được hai mươi tám điều lợi ích như sau đây

Đại nguyện

1. Bảo hộ Bồ-đề tâm và giới hạnh: Nguyện giúp người tu nhận ra các căn bản đọa làm tổn hại Tam bảo, chúng sinh và con đường Đại thừa; khiến họ sinh tâm hổ thẹn, phát lộ lỗi lầm và trở lại với giới pháp.

2. Dẫn người sám hối gặp thiện tri thức: Nguyện hiện thân lúc tỉnh hoặc trong mộng, hoặc dẫn hành giả đến bậc thầy có đủ khả năng chỉ dạy phương pháp đối trị, để sự sám hối đi cùng việc sửa hành vi và phục hồi chánh kiến.

3. Ban trí tuệ và khả năng ghi nhớ chánh pháp: Nguyện giúp người cầu học đạt sự sáng suốt, ghi nhớ điều đã nghe, hiểu nghĩa kinh và dùng trí ấy đúng mục đích tu tập, giáo hóa.

4. Đáp ứng thiện nguyện và ban pháp tài: Nguyện tùy căn cơ mà giúp người thiếu thốn có phương tiện sống, người cầu định được định, người cầu pháp được nghe pháp, người cầu công đức có điều kiện tu các ba-la-mật.

5. Cứu khỏi sợ hãi, nghiệp dữ và đường ác: Nguyện hiện các thân thích hợp để an ổn người gặp hiểm nạn; đến với người vào lúc lâm chung, giúp họ lìa nghiệp bất thiện và hướng tâm về cảnh giới lành.

6. Thành thục chúng sinh bằng mọi phương tiện: Nguyện hiện làm Phật, Bồ-tát, trời, người hoặc thân tương ứng với từng cảnh giới, dùng phương pháp mà đối tượng có thể tiếp nhận để đưa họ từng bước đến Bồ-đề.

Chân ngôn

Tâm chú

Giải từng phần:

Đà-la-ni Cầu Văn Trì

Giải từng phần: