Bồ Tát Địa Tạng
Tên Phạn: Kṣitigarbha
Tên Hán–Việt: Địa Tạng, Địa Tạng Vương Bồ Tát
Hạnh nguyện: Gánh vác việc giáo hóa chúng sinh trong thời gian từ khi Đức Phật Thích Ca nhập Niết-bàn đến khi Đức Phật Di Lặc xuất thế; đặc biệt cứu giúp chúng sinh đang chịu khổ trong các đường dữ
Vị trí: Được Đức Phật Thích Ca phó chúc chúng sinh cõi Ta-bà trong cung trời Đao Lợi
Dấu hiệu nhận dạng: Tướng sa-môn, đầu cạo, khoác pháp y; tay cầm tích trượng và minh châu
Nguồn gốc và nhân duyên trong kinh điển
1. Người con của vị trưởng giả phát nguyện thành Phật
Nầy Văn Thù Sư Lợi! Trải qua bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp lâu xa về trước, tiền thân của Ngài Địa Tạng Bồ Tát là một vị trưởng giả tử. Lúc đó, trong đời có đức Phật hiệu là Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai. Trưởng giả tử thấy Đức Phật tướng mạo tốt đẹp ngàn phước trang nghiêm, mới bạch hỏi đức Phật tu hạnh nguyện gì mà đặng tốt đẹp như thế? Khi ấy, Đức Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai bảo trưởng giả tử rằng: “Muốn chứng được thân tướng tốt đẹp nầy, cần phải trải qua trong một thời gian lâu xa độ thoát tất cả chúng sanh đang bị khốn khổ.”
Nầy Văn Thù Sư Lợi! Trưởng giả tử nghe xong liền phát nguyện rằng: “Từ nay đến tột số chẳng thể kể xiết ở đời sau, tôi vì những chúng sanh tội khổ trong sáu nẻo luân hồi mà giải bày nhiều phương tiện làm cho họ được giải thoát hết cả, rồi tự thân tôi mới chứng thành Phật đạo.” Bởi ở trước Đức Phật Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai, ngài lập nguyện rộng đó, nên đến nay đã trải qua trăm ngàn muôn ức vô số bất khả thuyết kiếp mà ngài vẫn còn làm vị Bồ Tát!”
2. Người nữ Bà-la-môn cứu mẹ
Lại thuở bất khả tư nghì vô số kiếp về trước, lúc đó có đức Phật hiệu là Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, đức Phật ấy thọ đến bốn trăm ngàn muôn ức vô số kiếp. Trong thời Tượng Pháp, có một người con gái dòng Bà La Môn, người nầy nhiều đời chứa phước sâu dầy, mọi người đều kính nể, khi đi đứng lúc nằm ngồi, chư Thiên thường theo hộ vệ. Bà mẹ của người mê tín tà đạo, thường khinh khi ngôi Tam Bảo. Thuở ấy, mặc dầu Thánh nữ đem nhiều lời phương tiện khuyên nhủ bà mẹ người, hầu làm cho bà mẹ sanh chánh kiến, nhưng bà mẹ vẫn chưa tin hẳn. Chẳng bao lâu bà ấy chết, thần hồn sa đọa và Địa Ngục Vô Gián
Bấy giờ Thánh nữ dường như chiêm bao chợt tỉnh, rõ biết việc đó rồi, bèn đối trước tượng của Đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai mà phát thệ nguyện rằng: “Tôi nguyện từ nay nhẫn đến đời vị lai những chúng sanh mắc phải tội khổ, thì tôi lập ra nhiều phương chước làm cho họ được giải thoát.”
Đức Phật bảo ngài Văn Thù Sư Lợi: “Quỷ vương Vô Độc trước đó nay chính là ông Tài Thủ Bồ Tát. Còn Thánh Nữ Bà La Môn đó, nay là Địa Tạng Bồ Tát vậy.”
3. Vị vua nguyện cứu dân trước khi thành Phật
Vô lượng vô số na do tha bất khả thuyết kiếp về thuở trước, lúc đó, có đức Phật ra đời hiệu là Nhứt Thiết Trí Thành Tựu Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Đức Phật đó thọ sáu muôn kiếp. Khi ngài chưa xuất gia, thời ngài làm vua một nước nhỏ kia, kết bạn cùng với vua nước lân cận; hai vua đồng thực hành mười hạnh lành làm lợi ích cho nhân dân. Nhân dân trong nước lân cận đó phần nhiều tạo những việc ác. Hai vua cùng nhau bàn tính tìm những phương chước để dắt dìu dân chúng
Một ông phát nguyện: ‘Tôi nguyện sớm thành Phật sẽ độ dân chúng ấy làm cho đều được giải thoát không còn thừa.’
Một ông phát nguyện: ‘Như tôi chẳng trước độ những kẻ tội khổ làm cho đều được an vui chứng quả Bồ Đề, thời tôi nguyện chưa chịu thành Phật’
Đức Phật bảo ngài Định Tự Tại Vương Bồ Tát rằng: “Ông vua phát nguyện sớm thành Phật đó chính là đức Nhứt Thiết Trí Thành Tựu Như Lai. Còn ông vua phát nguyện độ chưa hết những chúng sanh tội khổ thời chưa nguyện thành Phật đó, chính là ngài Địa Tạng Bồ Tát đây vậy.”
4. Cô gái Quang Mục phát nguyện vì mẹ
Lại vô số kiếp về thuở trước, có đức Phật ra đời, hiệu là Liên Hoa Mục Như Lai. Đức Phật đó thọ bốn mươi kiếp. Trong thời mạt pháp, có một vị La Hán phước đức cứu độ chúng sanh. Nhơn vì đi tuần giáo hóa mọi người, La Hán gặp một người nữ tên là Quang Mục, nàng nầy sắm sửa đồ ăn cúng dường La Hán. La Hán thọ cúng rồi hỏi: “Nàng muốn những gì?”
Quang Mục nghe xong, than khóc rơi lệ mà bạch cùng giữa hư không rằng: “Nguyện cho thân mẫu tôi khỏi hẳn địa ngục khi mãn mười ba tuổi không còn có trọng tội cùng không còn đọa vào ác đạo nữa. Xin chư Phật trong mười phương thương xót chứng minh cho tôi, vì mẹ mà tôi phát nguyện rộng lớn như vầy như thân mẫu tôi khỏi hẳn chốn tam đồ và hạng hạ tiện cùng thân gái, cùng kiếp không còn thọ những quả báo xấu đó nữa, tôi đối trước tượng của đức Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai mà phát lời nguyện rằng: ‘từ ngày nay nhẫn đến về sau trăm ngàn muôn ức kiếp, trong những thế giới nào mà các hàng chúng sanh bị tội khổ nơi địa ngục cùng tam ác đạo, tôi nguyện cứu vớt họ, làm cho tất cả đều thoát khỏi chốn ác đạo địa ngục, súc sanh, và ngạ quỷ, vân vân. Những kẻ mắc phải tội báo như thế thành Phật cả rồi, vậy sau tôi mới thành bậc Chánh Giác.”
Quang Mục phát nguyện xong, liền nghe tiếng của đức Phật Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai dạy rằng: “Nầy Quang Mục! Nhà ngươi rất có lòng từ mẫn, vì mẹ mà phát ra lời thệ nguyện rộng lớn như thế, thật là hay lắm! Ta quan sát thấy mẹ ngươi lúc mãn mười ba tuổi, khi bỏ báo thân nầy sẽ thác sanh làm người Phạm chí sống lâu đến trăm tuổi. Sau đó vãng sanh về cõi nước Vô Ưu sống lâu đến số không tính kể. Sau rốt thành Phật độ nhiều hạng người, trời, số đông như cát sông Hằng.”
Đức Phật bảo ngài Định Tự Tại Vương Bồ Tát rằng: “Vị La Hán phước lành độ Quang Mục thuở đó, chính là Vô Tận Ý Bồ Tát. Thân mẫu Quang Mục là ngài Giải Thoát Bồ Tát. Còn Quang Mục là ngài Địa Tạng Bồ Tát đây vậy. Trong nhiều kiếp lâu xa về trước ngài có lòng từ mẫn, phát ra hằng hà sa số lời thệ nguyện độ khắp chúng sanh như thế.”
5. Nhận lời phó chúc tại cung trời Đao Lợi
Nầy Địa Tạng! Địa Tạng! Ông nên nhớ hôm nay Ta ở trong cung trời Đao Lợi, nơi pháp hội lớn có trăm ngàn muôn ức bất khả thuyết, bất khả thuyết tất cả các chư Phật, các vị Bồ Tát, các hàng trời, rồng, tám bộ chúng đây, một lần nữa đem các hàng chúng sanh, những kẻ ở trong nhà lửa ra khỏi ba cõi, mà giao phó cho ông. Ông chớ để các chúng sanh đó phải bị đọa vào ác đạo, dầu là chỉ một ngày một đêm, huống chi lại để cho họ phải bị đọa lạc vào địa ngục Vô Gián cùng địa ngục A Tỳ, mãi đến ngàn muôn ức kiếp không lúc nào ra khỏi ư
Nầy Địa Tạng! Tâm tánh của chúng sanh cõi Diêm Phù Đề không định, phần đông quen theo thói ác, thoảng hoặc có người phát tâm lành, nhưng rồi không bao lâu liền thối thất, còn như duyên ác lại luôn luôn tăng trưởng. Cũng vì lẽ đó, nên Ta phải chia thân nầy ra trăm ngàn ức để hóa độ, thuận theo căn tánh của họ hầu cho họ được giải thoát
Nầy Địa Tạng! Hôm nay Ta ân cần đem chúng trời, người giao phó cho ông. Trong đời sau như có hàng trời người cùng thiện nam thiện nữ nào trồng chút ít căn lành ở trong Phật pháp, chừng bằng sợi lông, mảy trần, hạt cát, giọt nước, thời ông nên dùng đạo lực của ông ủng hộ người đó, làm cho người đó tu tập lần lần đạo hạnh vô thượng, chớ để họ thối thất
Lại vầy nữa, nầy Địa Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, hoặc có trời hay người nào phải theo nghiệp mà thọ báo bị đọa vào ác đạo, đến khi bị đọa vào chốn ác đạo, vừa bước đến cửa ngục, những chúng sanh đó nếu có thể niệm đặng danh hiệu của đức Phật, hay danh hiệu của một vị Bồ Tát, cùng một câu kệ kinh điển Đại Thừa. Ông nên dùng thần lực của ông tìm phương chước cứu vớt các chúng sanh đó, ông nên hiện thân ra trước kẻ đó, phá tan địa ngục làm cho họ được sanh lên cõi trời hưởng sự vui vi diệu thù thắng.”
Hình tượng và ý nghĩa pháp bảo
Trong văn hóa Nhật Bản, Địa Tạng là Bồ-tát hộ mệnh cho trẻ em, cũng như bảo vệ các vong linh của trẻ em hoặc bào thai chết yểu. Địa Tạng thường được mô tả là một tỳ kheo trọc đầu với vầng hào quang, một tay cầm tích trượng để mở cửa địa ngục và đánh tan mọi sự đau khổ, tay kia cầm ngọc Như Ý tượng trưng cho ánh sáng xua tan bóng đêm.
Những tranh tượng ở Trung Quốc và Việt Nam cũng khắc họa Địa Tạng Vương Bồ tát đội mũ thất phật và mặc cà sa đỏ vốn là hình ảnh tu sĩ Phật giáo Bắc Truyền, hình tượng nhân vật Đường Tăng trong tiểu thuyết Tây Du Ký rất giống hình tượng này. Ngoài ra, Địa Tạng vương rất dễ nhầm lẫn với Mục-kiền-liên vì có nhiều điểm tương đồng về trang phục (mặc áo cà sa) và tay đều cầm tích trượng. Ở Việt Nam, khi người ta điêu khắc thì có sự phân biệt, khi Địa Tạng sẽ đội mũ thất phật, trong khi đó Mục-kiền-liên thì không đội mão, Địa Tạng thường được điêu khắc ngồi trên tòa sen hoặc cưỡi Đề Thính, trong khi Mục-kiền-liên thì đứng, ông không ngồi mà luôn ở thế đứng, một đặc điểm phân biệt là Mục-kiền-liên tay trái không cầm gì hoặc cầm bình bát, trong khi Địa Tạng tay trái sẽ cầm viên ngọc Như Ý.
Ngày vía
- Ngày 30 tháng 7: vía Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát
- Trong khi đó Phật giáo Nhật Bản chọn ngày 24 tháng Bảy Âm lịch là ngày vía của Bồ Tát Địa Tạng và cũng là ngày lễ hội truyền thống của trẻ thơ.
Đại nguyện
1. Nguyện của người con trưởng giả: Từ nay cho đến tận cùng đời vị lai, dùng vô số phương tiện cứu giúp tất cả chúng sinh tội khổ trong sáu đường đều được giải thoát rồi mới tự mình thành Phật.
2. Nguyện của người nữ Bà-la-môn: Trong những kiếp vị lai, đối với chúng sinh mắc tội đang chịu khổ trong địa ngục và ba đường dữ, nguyện lập nhiều phương tiện khiến tất cả đều được giải thoát rồi mới thành Phật.
3. Nguyện của vị vua: Nguyện trước hết đưa những chúng sinh tạo tội đến chỗ an ổn và an lập họ nơi Bồ-đề; nếu chưa làm được như vậy thì bản thân chưa nguyện thành Phật.
4. Nguyện của Quang Mục: Từ ngày ấy về sau, nguyện cứu thoát tất cả chúng sinh mắc tội trong địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh; đợi khi những người chịu quả báo ấy đều thành Phật rồi mới thành Chánh giác.
28 điều lợi
1. Các hàng Trời, Rồng thường hộ niệm. 2. Quả lành càng ngày càng thêm lớn. 3. Chứa nhóm nhơn vô thượng của Thánh. 4. Mãi không còn thối thất đạo Bồ Đề. 5. Đồ mặc món ăn dồi dào đầy đủ. 6. Những bịnh tật không đến nơi thân. 7. Khỏi những tai nạn về lửa và nước. 8. Không có bị hại vì trộm cướp. 9. Người khác thấy đến sanh lòng cung kính. 10. Các hàng Quỉ Thần theo hộ trì. 11. Đời sau thân gái sẽ chuyển thành thân trai. 12. Đời sau sẽ làm con gái các hàng Vương Giả, Đại Thần. 13. Thân tướng xinh đẹp. 14. Phần nhiều được sanh về cõi trời. 15. Hoặc làm vua chúa. 16. Có trí sáng biết rõ việc trong những đời trước. 17. Có mong cầu chi cũng được toại ý. 18. Quyến thuộc an vui. 19. Các tai vạ bất ngờ đều dứt sạch. 20. Các nghiệp về ác đạo đều trừ hẳn. 21. Đi đến đâu cũng đều không bị sự trở ngại. 22. Đêm nằm chiêm bao an ổn vui vẻ. 23. Những người thân tộc đã chết nếu có tội thời được khỏi khổ. 24. Nếu về đời trước có phước thời được thọ sanh về cõi vui sướng. 25. Các vị Thánh ngợi khen. 26. Căn tánh lanh lợi thông minh. 27. Giàu lòng từ mẫn. 28. Rốt ráo thành Phật.
Chân ngôn
Chân ngôn Địa Tạng
- Phạn: Namaḥ samantabuddhānāṃ: "ha ha ha, sutanu svāhā."
- Hán–Việt: Nam ma tam mạn đa một đà nẫm: "ha ha ha, tố đát nỗ, sa-phạ-ha."
- Ý nghĩa: Kính lễ khắp tất cả chư Phật.
Giải từng phần:
- Namaḥ → Nam ma: kính lễ, quy kính.
- Samanta → tam mạn đa: khắp cả, phổ biến, toàn thể.
- Buddhānāṃ → một đà nẫm: của chư Phật.
- Ha ha ha: mật âm được lặp ba lần.
- Sutanu → tố đát nỗ: mật ngữ trong câu chân ngôn.
- Svāhā → sa-phạ-ha: âm kết, mang ý thành tựu, viên thành hoặc hiến dâng.
Chân ngôn lưu hành
- Phạn: "Oṃ ha ha ha vismaye svāhā."
- Ý nghĩa: "Ôm, ha ha ha, kỳ diệu thay, soa-ha."
Giải từng phần:
- Oṃ: âm mở đầu linh thiêng của chân ngôn.
- Ha ha ha: mật âm được lặp ba lần.
- Vismaye: sự kỳ diệu, điều đáng kinh ngạc.
- Svāhā: âm kết, mang ý thành tựu, viên thành hoặc hiến dâng.
Sự tích
Trung Hoa
Kim Địa Tạng tại Cửu Hoa Sơn
Trong đó, những ghi chép liên quan đến Kim Kiều Giác đại thể kể rằng: vào cuối niên hiệu Khai Nguyên đời Đường Huyền Tông, có một vị pháp hiệu là “Địa Tạng”, là thân thuộc của vương tộc họ Kim nước Tân La, một phiên thuộc của nhà Đường. Cổ ông cao, cốt tướng phi phàm, thân cao bảy thước, sức lực còn lớn hơn sức của một trăm người cộng lại. Địa Tạng từng nói: “Lục kinh thuộc về thế gian, Tam Thanh thuộc về phương thuật, chỉ có Đệ nhất nghĩa đế mà Đức Phật thuyết mới phù hợp với tâm ta.” Sau khi xuống tóc xuất gia, Địa Tạng vượt biển từ nước Tân La sang, rồi rời thuyền và tiếp tục đi bộ. Pháp sư Địa Tạng dọc đường phát bụi gai, vin dây leo, trèo qua núi, vượt khe vực, trải đủ gian nan, cuối cùng tìm được trong thung lũng phía nam của ngọn núi một vùng đất hướng về phía mặt trời, rộng rãi và bằng phẳng. Trong thời gian sống trên núi, pháp sư Địa Tạng từng bị độc vật chích, nhưng ngài vẫn ngồi ngay thẳng trong thiền định. Lúc ấy xuất hiện một người phụ nữ xinh đẹp, cung kính hành lễ rồi dâng thuốc cho pháp sư Địa Tạng và nói: “Đứa trẻ không hiểu biết đã cắn bị thương ngài, tôi nguyện hóa ra một dòng suối để bù đắp lỗi lầm của nó.” Pháp sư Địa Tạng theo lời nhìn xuống tảng đá nơi mình đang ngồi, quả nhiên thấy nước suối róc rách chảy ra từ khe đá.
Đến niên hiệu Chí Đức, khoảng năm 756, Gia Cát Tiết và những người khác từ chân núi trèo lên đỉnh, thấy núi rừng sâu rộng, không một bóng người, mây và mặt trời sáng rõ, nhưng chỉ có một vị tăng sống tại đó, nhắm mắt ngồi thiền trong thạch thất. Bên cạnh ngài, trong một chiếc đỉnh đã gãy chân chỉ có một ít đất trắng. Loại đất trắng này thường gọi là đất Quan Âm, ăn một lượng nhỏ có thể chống đói; nó được trộn với một lượng gạo rất ít rồi nấu lên để ăn. Mọi người thấy cảnh tượng ấy đều lần lượt quỳ rạp xuống đất, lớn tiếng khóc và nói: “Hòa thượng tu hành gian khổ như vậy, thực sự là lỗi lớn của chúng tôi!” Vì vậy họ cùng nhau quyên tiền, mua lại mảnh đất cũ nơi vị tăng có hiệu Đàn từng cư trú, rồi tha thiết thỉnh cầu pháp sư Địa Tạng đến đó ở lâu dài; pháp sư Địa Tạng cũng thuận theo. Người dân quanh Cửu Hoa Sơn nghe tin đều từ bốn phương kéo đến, cùng nhau đốn gỗ, dựng nhà, khiến nơi thiền cư đổi mới hoàn toàn.
Danh tiếng của pháp sư Địa Tạng nhanh chóng truyền xa. Người nước Tân La nghe được những việc này đều kết bạn với nhau vượt biển đến. Vì số đệ tử ngày càng đông, Đại sư lo lắng lương thực không đủ nên sai người đào đá để lấy đất trắng. Loại đất này có màu xanh trắng, trông giống như bột mì. Mùa hè, mọi người trộn một ít đất trắng vào thức ăn; mùa đông, tất cả mặc áo mỏng và chỉ dùng rất ít lửa để sưởi ấm. Trong chùa không phân biệt già trẻ, ai cũng đốt nương trồng trọt, thu nhặt củi, tự cung tự cấp. Cuộc sống gian khổ nên ở phương Nam họ được gọi là “chúng tiều tụy”. Khi Đại sư chín mươi chín tuổi, tức vào một ngày mùa hè năm Trinh Nguyên thứ mười đời Đường Đức Tông, năm 794, Đại sư bỗng triệu tập các đệ tử để cáo biệt. Những người nhận được tin đều bàng hoàng, nhất thời không biết phải làm sao. Ngày hôm ấy, chỉ nghe tiếng núi đá vang lên, những tảng đá lớn rơi xuống, ngay cả thế giới vô tình cũng bị cảm động.
Sau khi Đại sư vãng sinh, ngài kiết già phu tọa trong hòm. Sau ba năm, các đệ tử mở nắp hòm để chuẩn bị đưa Đại sư vào tháp, nhưng phát hiện dung mạo của ngài vẫn giống như khi còn sống; khi nâng các khớp xương của ngài lên thì nghe như tiếng lay động của xích vàng. Đúng như kinh Phật nói: “Bồ Tát câu tỏa, bách hài minh hĩ.” Tại nền tháp thường phát ra ánh sáng giống như lửa, vì vậy Kim Kiều Giác được xem là hóa thân của Địa Tạng Bồ Tát.
Ngoài ra, Thần tăng truyện ghi rằng khi ấy chủ núi Cửu Hoa Sơn tên là Mẫn Công, vốn có lòng thiện, thường xuyên cúng dường tăng chúng. Tuy nhiên, mỗi lần tổ chức trai tăng cho một trăm vị tăng thì luôn thiếu một vị, vì vậy ông mời Kim Kiều Giác đến cho đủ số. Kim Kiều Giác nói: “Ta không đến để xin trai thực, ta đến để xin một ngọn núi.” Mẫn Công hỏi ngài cần bao nhiêu đất, Kim Kiều Giác đáp rằng chỉ xin một khoảng đất đủ để một tấm cà-sa phủ lên làm nơi tu hành. Mẫn Công đồng ý. Sau đó Kim Kiều Giác tung chiếc cà-sa lên không trung, tấm cà-sa che phủ toàn bộ các đỉnh của Cửu Hoa Sơn. Mẫn Công thấy pháp lực của ngài vô biên nên hoan hỷ bố thí. Về sau, con trai Mẫn Công cũng xin xuất gia dưới pháp tòa của Kim Kiều Giác, pháp hiệu Đạo Minh; bản thân Mẫn Công cũng rời xa hồng trần. Từ đó, tượng Kim Kiều Giác đều có Đạo Minh và Mẫn Công làm hiệp thị.
Nhật Bản
Bồ Tát Địa Tạng, người bảo vệ trẻ con
Huyền thoại Á Đông thường đề cập đến một giòng sông mà người chết trong giai đoạn thân trung ấm cần phải vượt qua, đó là sông Nại hà. Theo truyền thuyết của Nhật Bản, những trẻ con yểu tử sau khi chết đều tụ tập ở bên bờ sông này. Do lòng thương nhớ khôn nguôi đến những người thân yêu, tại đây chúng nhặt những hòn đá cuội sắp xếp thành những ngôi nhà để tưởng nhớ đến cha mẹ, anh chị em. Khi hoàn tất xong một cái, chúng bảo rằng: “Cái nhà này là của mẹ, người bảo bọc tôi. Cái nhà này là của cha, người nắm tay tôi dẫn dắt tôi trên đường đời. Cái này là của anh, chị, em tôi...”
Truyện mô tả là không khí bên bờ sông Nại hà rất là đìu hiu và thê lương, trẻ con thì không ngớt khóc than vì không còn cha mẹ để nương tựa, bám víu. Trong lúc này một mụ phù thuỷ độc ác tên là Datsuba với một con mắt cháy đỏ hung dữ hiện ra, lột hết áo quần của tất cả bọn chúng treo lên cành cây. Mụ không ngớt nguyền rủa chúng là do chết yểu nên chúng đã không hoàn tất bổn phận của người con là phải săn sóc, giúp đỡ cha mẹ lúc cha mẹ già yếu. Để bù lại, mỗi ngày mụ bắt chúng phải ở trần truồng xây những căn nhà bằng đá cuội như là một sự trừng phạt. Nhưng rồi cứ mỗi buổi chiều tối, khi những căn nhà đã sắp hoàn thành xong thì một bầy quỉ hung ác khác, đầu sừng răng nanh hiện ra, dùng gậy sắt đập phá hết tất cả những công trình xây dựng của bọn trẻ, miệng không ngừng la lối nạt nộ: “Khốn nạn cho tụi bây chết trước cha mẹ! Tụi bây đâu đã biết cầu nguyện là gì!!”
Chính lúc này thì Bồ Tát Địa Tạng hiện ra và bọn trẻ trong lúc đang kinh hoàng vội vàng chạy đến chui vào tăng bào của Ngài để tìm chỗ ẩn trốn. Những đứa nhỏ hơn vì chạy không kịp đến trễ thì vội đeo vào cánh tay hay thiền trượng của Ngài. Bồ Tát Địa Tạng liền an ủi vỗ về chúng: “Không có gì các con phải sợ hãi cả. Từ đây ta là Mẹ là Cha của các con.” Bọn quỉ đã xúm lại đòi Bồ Tát Địa Tạng phải trao đám trẻ con lại cho chúng, nhưng Ngài đã dùng uy lực của mình phóng ra những vầng hào quang rực rỡ khiến bọn chúng đều khiếp sợ bỏ đi.