Bồ Tát Đại Thế Chí
Tên Phạn: Mahāsthāmaprāpta
Tên Hán–Việt: Đại Thế Chí, Đắc Đại Thế, Đại Tinh Tấn
Hạnh nguyện: Nhiếp phục sáu căn, giữ tịnh niệm liên tục và tiếp dẫn người niệm Phật về cõi Cực Lạc
Vị trí: Đứng bên phải Đức Phật A Di Đà trong Tây Phương Tam Thánh; Quán Thế Âm đứng bên trái
Dấu hiệu nhận dạng: Bình báu trên bảo quan; thân sắc vàng tía; hoa sen; chắp tay trong hình tượng tiếp dẫn
Nguồn gốc và nhân duyên trong kinh điển
1. Thái tử Ni-ma phát tâm Bồ-đề
Trong Kinh Đại Bi Liên Hoa (Kinh Bi Hoa), tiền thân của Đại Thế Chí Bồ Tát là Ni-ma vương tử, người con thứ hai của Chuyển luân vương Vô Tránh Niệm (sau này là Đức Phật A Di Đà). Bồ tát được Phật Bảo Tạng thọ ký rằng, trong đời vị lai vô lượng vô biên kiếp, sau khi Đức Phật Biến Xuất Nhất Thiết Công Đức Sơn Vương Như Lai nhập Niết-bàn (tức Quán Thế Âm Bồ Tát thành Phật trong đời vị lai), Đại Thế Chí Bồ tát sẽ thay ngài tiếp quản chánh pháp và thế giới phương tây, thành Phật hiệu là Thiện Trụ Trân Bảo Sơn Vương Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật, Thế Tôn.
2. Trợ hóa tại cõi Cực Lạc
Ngài là vị Bồ tát thường dùng ánh sáng trí tuệ chiếu khắp mọi loài, khiến chúng sanh mười phương thế giới thoát khổ đau, thành tựu đạo quả Bồ đề. Đắc Đại Thế Bồ tát vì Bồ tát có hạnh nguyện đại hùng đại lực đại từ bi, dùng hạnh nguyện này để trụ trong Ta bà thế giới, điều phục và tiếp độ chúng sanh cang cường.
Đức Phật A Di Đà là Giáo chủ của thế giới Cực Lạc phương tây, Bồ tát Quán Thế Âm và Bồ tát Đại Thế Chí là 2 vị thị giả giúp Phật A Di Đà trong việc giáo hóa chúng sinh, vì thế được gọi là Tây Phương Tam Thánh.
3. Học pháp niệm Phật từ mười hai Đức Như Lai
Đại Thế Chí pháp vương tử cùng những với năm mươi hai vị Bồ Tát đồng chí hướng với Ngài, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, mà bạch Phật rằng
Con nhớ xưa kia trong hằng hà sa kiếp, có Phật xuất thế, tên là Vô Lượng Quang. Mười hai vị Như Lai nối tiếp nhau [xuất hiện] trong một kiếp. Đức Phật sau cùng tên là Siêu Nhật Nguyệt Quang
Đức Phật ấy dạy con Niệm Phật Tam Muội
Ví như có người, một người chuyên nhớ, một người chuyên quên, hai người như thế dù gặp cũng như không gặp, dù có thấy cũng như không thấy. Hai người nhớ nhau, hai người nhớ nghĩ nhau sâu xa, như thế cho đến từ đời này sang đời khác, giống như hình với bóng
Mười phương Như Lai nghĩ thương chúng sanh như mẹ nhớ con. Nếu con trốn đi, dù nhớ làm gì được?
Nếu con nhớ mẹ như mẹ nhớ con, mẹ con đời đời chẳng trái xa nhau
Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật, niệm Phật, [sẽ trong] hiện tại hay trong tương lai, nhất định thấy Phật
Cách Phật chẳng xa, chẳng nhờ đến phương tiện, tâm được tự khai
Như người nhiễm hương, thân có mùi thơm. Đó gọi là Hương Quang Trang Nghiêm
4. Thành tựu niệm Phật viên thông
Nhân địa của con, dùng tâm niệm Phật, nhập Vô Sanh Nhẫn
Nay trong cõi này, nhiếp người niệm Phật quay về Tịnh Độ
Phật hỏi viên thông, con không chọn lựa. Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối, đắc tam-ma-địa, ấy là bậc nhất
Hình tượng và ý nghĩa pháp bảo
Trong bức tranh vẽ "Tây Phương Tam Thánh", Bồ Tát Đại Thế Chí cầm cành hoa sen màu xanh đứng bên tay phải Đức Phật A Di Đà, bên tay trái là Bồ Tát Quán Thế Âm cầm nhành dương liễu và bình tịnh thủy.
Theo kinh Quán Vô Lượng Thọ, Bồ tát thân cao tám mươi muôn ức na do tha do tuần, da màu vàng tử kim, trong thiên quang của Bồ tát có 500 hoa báu, mỗi một hoa báu có 500 đài báu, trong mỗi đài đều hiện quốc độ tịnh diệu của mười phương chư Phật, nhục kế như hoa Bát đầu ma, giữa nhục kế có một bình báu, khác hình tượng Quan Thế Âm Bồ tát.
Theo phẩm A-lợi-đa-la-đà-la-ni-a-lỗ-lực, hai Bồ tát đều toàn thân màu vàng, phóng hào quang trắng, tay phải cầm phất trần trắng, tay trái cầm hoa sen, thân hình Bồ tát Đại Thế Chí nhỏ hơn Quán Thế Âm.
Còn trong Hiện đồ mạn đồ la thai tạng giới của Mật tông, ngài là vị thứ hai ở phương trên trong viện Quan Âm, ngồi trên hoa sen đỏ, thân màu trắng, tay trái cầm hoa sen mới nở, tay phải co ba ngón giữa đặt trước ngực. Mật hiệu là Trì luân kim cương, hình Tam muội da là hoa sen mới nở.
Ngày vía
- Ngày mùng 13 tháng 7: vía Đức Đại Thế Chí Bồ Tát
Đại nguyện
1. Nguyện thành tựu cõi Phật thanh tịnh: Khi còn là thái tử Ni-ma, Ngài nguyện tu Bồ Tát đạo, tích lũy công đức và tiếp nhận một cõi Phật trang nghiêm để giáo hóa chúng sinh.
2. Nguyện tiếp nối công hạnh của Quán Thế Âm: Sau khi Quán Thế Âm thành Phật, Ngài nguyện phụng sự, thân cận và cùng giáo hóa chúng Bồ Tát trong cõi ấy.
3. Nguyện gìn giữ Chánh pháp: Sau khi Đức Phật Biến Xuất Nhất Thiết Quang Minh Công Đức Sơn Vương nhập Niết-bàn, Ngài nguyện thọ trì và hoằng truyền giáo pháp, khiến Chánh pháp tồn tại lâu dài và tiếp tục làm lợi ích chúng sinh.
4. Nguyện thành Phật để tiếp tục độ sinh: Khi thời kỳ Chánh pháp trước mãn, Ngài sẽ thành Phật Thiện Trụ Trân Bảo Sơn Vương, tiếp nhận cõi nước, chúng hội và sự nghiệp giáo hóa.
5. Nguyện dùng niệm Phật làm con đường nhiếp tâm: Ngài thực hành và chỉ dạy việc thu nhiếp cả sáu căn, khiến tâm không chạy theo ngoại cảnh, lấy tịnh niệm liên tục làm nhân trực tiếp đi vào tam-ma-địa.
6. Nguyện tiếp dẫn người niệm Phật: Ngài hiện ở cõi Ta-bà để nhiếp hộ người nhớ Phật, niệm Phật, giúp họ được gần Phật và trở về cõi Tịnh Độ.
Chân ngôn
Chân ngôn Đại Thế Chí
- Phạn: Namaḥ samantabuddhānāṃ: "jaṃ jaṃ saḥ svāhā."
- Ý nghĩa: Kính lễ khắp tất cả chư Phật.
Giải từng phần:
- Namaḥ: kính lễ, quy kính.
- Samanta: khắp cả, toàn thể.
- Buddhānāṃ: của chư Phật.
- Jaṃ jaṃ saḥ: mật âm.
- Svāhā: âm kết, mang ý thành tựu, viên thành hoặc hiến dâng.
Xưng niệm
- Xưng niệm: "Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát."
- Ý nghĩa: "Kính lễ Đại Thế Chí Bồ Tát."
Giải từng phần:
- Namo → Nam mô: kính lễ, quy kính, nương về.
- Đại Thế Chí (Mahāsthāmaprāpta): danh hiệu của Ngài, nghĩa là bậc đã đạt được thế lực lớn.
- Bồ Tát (bodhisattva): bậc cầu giác ngộ và độ chúng sinh.