Bồ Tát Chuẩn Đề

Tên Phạn: Cundī

Tên Hán–Việt: Chuẩn Đề, Chuẩn Đề Phật Mẫu, Thất Câu Chi Phật Mẫu

Hạnh nguyện: Dùng đà-la-ni giúp người nghiệp nặng, phước mỏng thanh tịnh nghiệp chướng, phát tâm Bồ-đề và tiến đến giác ngộ

Vị trí: Tôn vị của Mật giáo Đại thừa; được an trí trong Biến Tri viện của Thai Tạng giới mạn-đồ-la

Dấu hiệu nhận dạng: Thân sắc vàng trắng, một mặt ba mắt, mười tám tay, ngồi kiết già trên hoa sen do hai long vương nâng đỡ

Nguồn gốc và nhân duyên trong kinh điển

1. Đức Phật nói đà-la-ni tại vườn Cấp Cô Độc

Trong Phật Thuyết Thất Câu Chi Phật Mẫu Đại Chuẩn Đề Đà La Ni Kinh có thuật lại rằng khi ở tại Vườn Cấp Cô Độc, thuộc nước Xá Vệ, đức Phật tư duy quán sát, thương tưởng các chúng sanh trong đời tương lai, nên tuyên thuyết “Thất Câu Chi Phật Mẫu Tâm Chuẩn Đề Đà La Ni Pháp”, tức là Chuẩn Đề Chú được các tín đồ Phật Giáo thường trì tụng.

Theo kinh “Chuẩn Đề Đại Minh Đà La Ni”, Bồ tát Chuẩn Đề là hóa thân của đức Quán Thế Âm, thị hiện vào trong sáu đường sinh tử để hóa độ chúng sinh. Ngài là vị Bồ tát có thệ nguyện hộ trì Phật pháp và hộ mạng cho những chúng sinh nào trí tuệ kém cỏi, nghiệp chướng sâu dày, thân nhiều tật bệnh, thọ mạng ngắn ngủi...

Bồ tát vì thương tưởng chúng sinh vốn nhiều chướng nạn như thân đa tật bệnh, trí tuệ kém cỏi hoặc lỡ đã tạo các ác nghiệp sâu dày... nên Ngài đối trước Phật tuyên nói thần chú, để giải trừ các hoặc nghiệp cho chúng sinh. Kinh Chuẩn Đề có nói:

“Bấy giờ đức Phật trụ tại vườn cây của hai ông Kỳ Đà, Tu Bạt, được bốn chúng và tám bộ cung kính vi nhiễu, lúc đó Bồ tát Chuẩn Đề vì thương tưởng đến chúng sinh thời mạt pháp nghiệp dày phước mỏng, nên Ngài vào định Chuẩn Đề tam muội, rồi thuyết pháp, thuật lại thần chú này là chỗ bảy trăm ức đức Phật đã nói: Nam mô tát đa nẫm, tam miệu tam bồ đề, câu tri nẫm đạt điệt tha. Án chiết lệ chủ lệ Chuẩn Đề ta bà ha”.

2. Tám vị Bồ Tát quyến thuộc

Chuẩn Đề Phật Mẫu còn có 8 vị Bồ Tát là quyến thuộc, như Quán Tự Tại Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Kim Cang Thủ Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Trừ Cái Chướng Bồ Tát và Địa Tạng Bồ Tát.

Hình tượng và ý nghĩa pháp bảo

Hình tượng của Bồ Tát Chuẩn Đề rất dễ nhận diện (tuy tương tự nhưng khác với hình tượng Phật Bà Nghìn Mắt Nghìn Tay). Hiện thân của Ngài thường là tư thế ngồi kiết già, với 18 cánh tay, mỗi bên 9 cánh. Mão của Ngài đội là Mão Hoa Quang hoá hiện ra 5 vị Phật.

Trong 18 cánh tay, thì hai cánh tay trên cùng với tư thế kiết ấn Chuẩn Đề, tướng như tướng đang lúc thuyết pháp.

Tay phải thứ hai pháp khí thí vô uý, còn tay trái cầm phan như ý.

Hai tay thứ ba thì tay phải cầm gươm báu, tay trái cầm bông sen.

Hai tay thứ tư, một tay cầm chuỗi hạt Ni ma bảo châu, tay kia cầm sợi dây Kim Cang.

Hai tay thứ năm, một tay cầm trái la-ca-quả, tay kia cầm sợi dây Kim Cang.

Hai tay thứ sáu, một tay cầm pháp khí Búa, tay kia cầm Xa-luân.

Hai tay thứ bảy, một tay cầm thiết câu, tay kia cầm Pháp-loa. Hai tay thứ tám, một tay cầm chày kim cang, tay kia cầm bình như ý.

Hay tay thứ chín, một tay phải cầm xâu chuỗi dài, một tay cầm kinh Bát Nhã Ba La mật.

Những pháp khí mà Phật Mẫu Chuẩn Đề cầm đều mang một biểu pháp giáo hóa chúng sinh. Những pháp khí mà Ngài cầm ở tay phải như móc câu, búa, chày… là những khí vật hung dữ, có thể hàng phục chúng sinh cang cường, để họ quay hướng Chánh pháp. Bên trái Ngài cầm những báu vật như dải lụa, hoa sen, hộp kinh… đây là những thánh tài Phật pháp Ngài ban phát cho chúng sinh sau khi hàng phục để họ có thể tu tập giải thoát. Những pháp khí khác nhau mà Ngài cầm trong tay biểu thị cho uy lực vĩ đại của Ngài trong việc hàng trừ ma chướng cùng công năng màu nhiệm ủng chúng Phật tử, những người lập chí phát tâm tu học.

Những hình tướng phổ biến

Ngài được an trí tại Biến Tri Viện của Hiện Đồ Thai Tạng Giới, hình tượng thường có 3 mắt với 2 tay, 4 tay, 6 tay, 8 tay, hay 18 tay, v.v.

Ngày vía

Đại nguyện

1. Nhiếp thọ chúng sinh ít phước, nhiều nghiệp: Đức Phật vì thương tưởng chúng sinh đời sau phước mỏng, nghiệp nặng mà nhập Chuẩn Đề tam-ma-địa và nói đà-la-ni; pháp môn mở ra cho người đang chịu nhiều chướng ngại.

2. Thanh tịnh nghiệp chướng: người chí tâm trì tụng sám hối và chuyển hóa những nghiệp bất thiện nặng; nhờ tu sửa thân, khẩu, ý, nghiệp xấu không tiếp tục tăng trưởng và thiện căn được làm chín.

3. Khiến hành giả gặp Tam bảo và bậc thiện tri thức: người tu được sinh nơi gặp chư Phật, Bồ-tát và có duyên xuất gia.

4. Thành tựu các thiện nguyện thế gian: cầu an ổn, hết bệnh, tăng phước, hòa hợp và vượt chướng nạn; mọi sở cầu đặt dưới điều kiện hợp chính pháp, có tâm từ bi và không gây tổn hại chúng sinh.

5. Phát tâm Bồ-đề và tu các thiện nghiệp: người hành trì phát Bồ-đề tâm và khởi lòng từ bi; lợi ích thế gian là phương tiện dẫn đến cầu giác ngộ để làm lợi ích hữu tình.

6. Đưa hành giả đến Vô thượng Chính đẳng Chính giác: pháp được tuyên thuyết để làm lợi ích chúng sinh và khiến họ đạt A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.

Chân ngôn

Chuẩn Đề đà-la-ni

Giải từng phần: