Tiểu Phẩm › IX. Chương đình chỉ giới bổn › 1. Tụng phẩm thứ nhất · Tỳ khưu Indacanda
Cv 9.1 - TỤNG PHẨM THỨ NHẤT - ĐOẠN 467-498
467. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư chính là những vị phạm tội mà vẫn nghe giới bổn Pātimokkha (nghĩ rằng): “Không ai biết chúng ta đâu!” Các tỳ khưu trưởng lão biết được tâm của người khác nên báo cho các tỳ khưu rằng:
- Này các đại đức, các tỳ khưu nhóm Lục Sư tên (như vầy) và tên (như vầy) chính là những vị phạm tội mà vẫn nghe giới bổn Pātimokkha (nghĩ rằng): “Không ai biết chúng ta đâu!”
Các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã nghe rằng: “Nghe nói các tỳ khưu trưởng lão biết được tâm của người khác nên báo cho các tỳ khưu rằng: ‘Này các đại đức, các tỳ khưu nhóm Lục Sư tên (như vầy) và tên (như vầy) chính là những vị phạm tội mà vẫn nghe giới bổn Pātimokkha (nghĩ rằng): ‘Không ai biết chúng ta đâu!’ ” Các vị ấy (nghĩ rằng): “Trước hết, các tỳ khưu trong sạch sẽ đình chỉ giới bổn Pātimokkha của chúng ta” nên ra tay trước đình chỉ giới bổn Pātimokkha của các tỳ khưu trong sạch không phạm tội khi không có cơ sở, không có nguyên nhân.
Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại đình chỉ giới bổn Pātimokkha của các tỳ khưu trong sạch không có phạm tội khi không có cơ sở, không có nguyên nhân?
Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. …(như trên)…
- Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu nhóm Lục Sư đình chỉ giới bổn Pātimokkha của các tỳ khưu trong sạch không có phạm tội khi không có cơ sở, không có nguyên nhân, có đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
…(như trên)… Sau khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, không nên đình chỉ giới bổn Pātimokkha của các tỳ khưu trong sạch không có phạm tội khi không có cơ sở, không có nguyên nhân; vị nào đình chỉ thì phạm tội tác ác.
468. Này các tỳ khưu, một sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp, một sự đúng Pháp; hai sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp, hai sự đúng Pháp; ba sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp, ba sự đúng Pháp; bốn sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp, bốn sự đúng Pháp; năm sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp, năm sự đúng Pháp; sáu sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp, sáu sự đúng Pháp; bảy sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp, bảy sự đúng Pháp; tám sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp, tám sự đúng Pháp; chín sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp, chín sự đúng Pháp; mười sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp, mười sự đúng Pháp.
469. Thế nào là một sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp? Vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới không có nguyên cớ. Đây là một sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp.
470. Thế nào là một sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp? Vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới có nguyên cớ. Đây là một sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp.
471. Thế nào là hai sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp? Vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về hạnh kiểm không có nguyên cớ. Đây là hai sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp.
472. Thế nào là hai sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp? Vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về hạnh kiểm có nguyên cớ. Đây là hai sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp.
473. Thế nào là ba sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp? Vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về hạnh kiểm không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về tri kiến không có nguyên cớ. Đây là ba sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp.
474. Thế nào là ba sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp? Vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về hạnh kiểm có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về tri kiến có nguyên cớ. Đây là ba sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp.
475. Thế nào là bốn sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp? Vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về hạnh kiểm không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về tri kiến không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về nuôi mạng không có nguyên cớ. Đây là bốn sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp.
476. Thế nào là bốn sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp? Vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về hạnh kiểm có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về tri kiến có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về nuôi mạng có nguyên cớ. Đây là bốn sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp.
477. Thế nào là năm sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp? Vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội bất cộng trụ không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội tăng tàng không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội ưng đối trị không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội ưng phát lộ không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội tác ác không có nguyên cớ. Đây là năm sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp.
478. Thế nào là năm sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp? Vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội bất cộng trụ có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội tăng tàng có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội ưng đối trị có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội ưng phát lộ có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội tác ác có nguyên cớ. Đây là năm sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp.
479. Thế nào là sáu sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp? Vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới chưa được thực hiện không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới đã được thực hiện không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về hạnh kiểm chưa được thực hiện không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về hạnh kiểm đã được thực hiện không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về tri kiến chưa được thực hiện không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về tri kiến đã được thực hiện không có nguyên cớ. Đây là sáu sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp.
480. Thế nào là sáu sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp? Vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới chưa được thực hiện có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới đã được thực hiện có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về hạnh kiểm chưa được thực hiện có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về hạnh kiểm đã được thực hiện có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về tri kiến chưa được thực hiện có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về tri kiến đã được thực hiện có nguyên cớ. Đây là sáu sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp.
481. Thế nào là bảy sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp? Vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội bất cộng trụ không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội tăng tàng không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội trọng tội không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội ưng đối trị không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội ưng phát lộ không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội tác ác không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội ác khẩu không có nguyên cớ. Đây là bảy sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp.
482. Thế nào là bảy sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp? Vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội bất cộng trụ có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội tăng tàng có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội trọng tội có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội ưng đối trị có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội ưng phát lộ có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội tác ác có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội ác khẩu có nguyên cớ. Đây là bảy sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp.
483. Thế nào là tám sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp? Vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới chưa được thực hiện không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới đã được thực hiện không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về hạnh kiểm chưa được thực hiện không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về hạnh kiểm đã được thực hiện không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về tri kiến chưa được thực hiện không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về tri kiến đã được thực hiện không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về nuôi mạng chưa được thực hiện không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về nuôi mạng đã được thực hiện không có nguyên cớ. Đây là tám sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp.
484. Thế nào là tám sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp? Vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới chưa được thực hiện có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới đã được thực hiện có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về hạnh kiểm chưa được thực hiện có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về hạnh kiểm đã được thực hiện có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về tri kiến chưa được thực hiện có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về tri kiến đã được thực hiện có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về nuôi mạng chưa được thực hiện có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về nuôi mạng đã được thực hiện có nguyên cớ. Đây là tám sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp.
485. Thế nào là chín sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp? Vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới chưa được thực hiện không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới đã được thực hiện không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới đã được thực hiện và chưa được thực hiện không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về hạnh kiểm chưa được thực hiện không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về hạnh kiểm đã được thực hiện không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về hạnh kiểm đã được thực hiện và chưa được thực hiện không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về tri kiến chưa được thực hiện không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về tri kiến đã được thực hiện không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về tri kiến đã được thực hiện và chưa được thực hiện không có nguyên cớ. Đây là chín sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp.
486. Thế nào là chín sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp? Vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới chưa được thực hiện có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới đã được thực hiện có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới đã được thực hiện và chưa được thực hiện có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về hạnh kiểm chưa được thực hiện có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về hạnh kiểm đã được thực hiện có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về hạnh kiểm đã được thực hiện và chưa được thực hiện có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về tri kiến chưa được thực hiện có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về tri kiến đã được thực hiện có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về tri kiến đã được thực hiện và chưa được thực hiện có nguyên cớ. Đây là chín sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp.
487. Thế nào là mười sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp? Vị phạm tội bất cộng trụ không ngồi trong tập thể đó, sự thảo luận về việc phạm tội pārājika chưa được dứt điểm, vị đã xả bỏ sự học tập không ngồi trong tập thể đó, sự thảo luận về (trường hợp) xả bỏ sự học tập chưa được dứt điểm, vị phục tùng thỏa ước đúng Pháp, vị không bác bỏ thỏa ước đúng Pháp, sự thảo luận về việc bác bỏ thỏa ước đúng Pháp chưa được dứt điểm, vị không bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới, vị không bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm, vị không bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến. Đây là mười sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp.
488. Thế nào là mười sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp? Vị phạm tội bất cộng trụ ngồi trong tập thể đó, sự thảo luận về việc phạm tội pārājika đã được dứt điểm, vị đã xả bỏ sự học tập ngồi trong tập thể đó, sự thảo luận về (trường hợp) xả bỏ sự học tập đã được dứt điểm, vị không phục tùng thỏa ước đúng Pháp, vị bác bỏ thỏa ước đúng Pháp, sự thảo luận về việc bác bỏ thỏa ước đúng Pháp đã được dứt điểm, vị bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới, vị bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm, vị bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến. Đây là mười sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp.
489. Thế nào là vị phạm tội bất cộng trụ ngồi trong tập thể đó?
Này các tỳ khưu, ở đây sự phạm tội pārājika hiện hữu với những hình thức nào, với những đặc tính nào, với những dấu hiệu nào, vị tỳ khưu nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) đang phạm tội pārājika với những hình thức ấy, với những đặc tính ấy, với những dấu hiệu ấy. Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) đang phạm tội pārājika nhưng lại có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: “Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) đã phạm tội pārājika!” Cho dù vị tỳ khưu không thấy vị tỳ khưu (khác) đang phạm tội pārājika và cũng không có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: “Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) đã phạm tội pārājika!” nhưng chính vị tỳ khưu (phạm tội) ấy đã nói với vị tỳ khưu rằng: “Này đại đức, tôi đã phạm tội pārājika!” này các tỳ khưu, do được nghe điều ấy, do được thấy điều ấy, do nghi ngờ điều ấy, vị tỳ khưu nếu muốn thì vào ngày Uposatha là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, có thể nêu lên giữa hội chúng rằng: “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nhân vật tên (như vầy) đã phạm tội pārājika, tôi đình chỉ giới bổn Pātimokkha của vị ấy, giới bổn Pātimokkha không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.”
Sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha là đúng Pháp.
490. Khi giới bổn Pātimokkha của vị tỳ khưu đã bị đình chỉ, (nếu) tập thể giải tán do sự nguy hiểm nào đó trong mười sự nguy hiểm là sự nguy hiểm từ đức vua, sự nguy hiểm vì trộm cướp, sự nguy hiểm vì hỏa hoạn, sự nguy hiểm vì nước ngập, sự nguy hiểm vì loài người, sự nguy hiểm vì phi nhân, sự nguy hiểm vì thú dữ, sự nguy hiểm vì rắn, sự nguy hiểm vì mạng sống, sự nguy hiểm vì Phạm hạnh, này các tỳ khưu, tại trú xứ ấy hoặc trú xứ nào khác, vị tỳ khưu (nguyên cáo) nếu muốn thì vào ngày Uposatha là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, có thể nêu lên giữa hội chúng rằng: “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Sự thảo luận về tội pārājika của nhân vật tên (như vầy) chưa được dứt điểm, sự việc ấy chưa được quyết định. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên quyết định sự việc này.”
Nếu việc ấy đạt được như thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp. Nếu không đạt được, thì vào ngày Uposatha là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, nên nêu lên giữa hội chúng rằng: “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Sự thảo luận về tội pārājika của nhân vật tên (như vầy) chưa được dứt điểm, sự việc ấy chưa được quyết định. Tôi đình chỉ giới bổn Pātimokkha của vị ấy, giới bổn Pātimokkha không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.”
Sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha là đúng Pháp.
491. Thế nào là vị đã xả bỏ sự học tập ngồi trong tập thể đó?
Này các tỳ khưu, ở đây sự học tập được vị tỳ khưu xả bỏ với những hình thức nào, với những đặc tính nào, với những dấu hiệu nào, vị tỳ khưu nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) đang xả bỏ sự học tập với những hình thức ấy, với những đặc tính ấy, với những dấu hiệu ấy. Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) đang xả bỏ sự học tập nhưng lại có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: “Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) đã xả bỏ sự học tập!” Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) đang xả bỏ sự học tập và cũng không có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: “Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) đã xả bỏ sự học tập!” nhưng chính vị tỳ khưu (xả bỏ sự học tập) ấy đã nói với vị tỳ khưu rằng: “Này đại đức, tôi đã xả bỏ sự học tập!” này các tỳ khưu, do được nghe điều ấy, do được thấy điều ấy, do nghi ngờ điều ấy, vị tỳ khưu nếu muốn thì vào ngày Uposatha là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, có thể nêu lên giữa hội chúng rằng: “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nhân vật tên (như vầy) đã xả bỏ sự học tập, tôi đình chỉ giới bổn Pātimokkha của vị ấy, giới bổn Pātimokkha không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.”
Sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha là đúng Pháp.
492. Khi giới bổn Pātimokkha của vị tỳ khưu đã bị đình chỉ, (nếu) tập thể giải tán do sự nguy hiểm nào đó trong mười sự nguy hiểm là sự nguy hiểm từ đức vua, …(như trên)…, sự nguy hiểm vì Phạm hạnh, này các tỳ khưu, tại trú xứ ấy hoặc trú xứ nào khác, vị tỳ khưu (nguyên cáo) nếu muốn thì vào ngày Uposatha là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, có thể nêu lên giữa hội chúng rằng: “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Sự thảo luận về việc xả bỏ sự học tập của nhân vật tên (như vầy) chưa được dứt điểm, sự việc ấy chưa được quyết định. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên quyết định sự việc này.”
Nếu việc ấy đạt được như thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp. Nếu không đạt được, thì vào ngày Uposatha là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, nên nêu lên giữa hội chúng rằng: “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Sự thảo luận về việc xả bỏ sự học tập của nhân vật tên (như vầy) chưa được dứt điểm, sự việc ấy chưa được quyết định. Tôi đình chỉ giới bổn Pātimokkha của vị ấy, giới bổn Pātimokkha không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.”
Sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha là đúng Pháp.
493. Thế nào là vị không phục tùng thỏa ước đúng Pháp?
Này các tỳ khưu, ở đây việc không phục tùng thỏa ước đúng Pháp hiện hữu với những hình thức nào, với những đặc tính nào, với những dấu hiệu nào, và vị tỳ khưu nhìn thấy vị tỳ khưu khác không phục tùng thỏa ước đúng Pháp với những hình thức ấy, với những đặc tính ấy, với những dấu hiệu ấy. Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) không phục tùng thỏa ước đúng Pháp nhưng lại có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: “Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) không phục tùng thỏa ước đúng Pháp!” Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) không phục tùng thỏa ước đúng Pháp và cũng không có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: “Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) không phục tùng thỏa ước đúng Pháp!” nhưng chính vị tỳ khưu (không phục tùng) ấy đã nói với vị tỳ khưu rằng: “Này đại đức, tôi không phục tùng thỏa ước đúng Pháp!” này các tỳ khưu, do được nghe điều ấy, do được thấy điều ấy, do nghi ngờ điều ấy, vị tỳ khưu nếu muốn thì vào ngày Uposatha là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, có thể nêu lên giữa hội chúng rằng: “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nhân vật tên (như vầy) không phục tùng thỏa ước đúng Pháp, tôi đình chỉ giới bổn Pātimokkha của vị ấy, giới bổn Pātimokkha không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.”
Sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha là đúng Pháp.
494. Thế nào là vị bác bỏ thỏa ước đúng Pháp?
Này các tỳ khưu, ở đây việc bác bỏ thỏa ước đúng Pháp hiện hữu với những hình thức nào, với những đặc tính nào, với những dấu hiệu nào, vị tỳ khưu nhìn thấy vị tỳ khưu khác đang bác bỏ thỏa ước đúng Pháp với những hình thức ấy, với những đặc tính ấy, với những dấu hiệu ấy. Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) đang bác bỏ thỏa ước đúng Pháp nhưng lại có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: “Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) bác bỏ thỏa ước đúng Pháp!” Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) đang bác bỏ thỏa ước đúng Pháp và cũng không có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: “Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) bác bỏ thỏa ước đúng Pháp!” nhưng chính vị tỳ khưu (bác bỏ thỏa ước) ấy đã nói với vị tỳ khưu rằng: “Này đại đức, tôi bác bỏ thỏa ước đúng Pháp!” Này các tỳ khưu, do được nghe điều ấy, do được thấy điều ấy, do nghi ngờ điều ấy, vị tỳ khưu nếu muốn thì vào ngày Uposatha là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, có thể nêu lên giữa hội chúng rằng: “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nhân vật tên (như vầy) bác bỏ thỏa ước đúng Pháp, tôi đình chỉ giới bổn Pātimokkha của vị ấy, giới bổn Pātimokkha không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.”
Sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha là đúng Pháp.
495. Khi giới bổn Pātimokkha của vị tỳ khưu đã bị đình chỉ, (nếu) tập thể giải tán do sự nguy hiểm nào đó trong mười sự nguy hiểm là sự nguy hiểm từ đức vua, …(như trên)…, sự nguy hiểm vì Phạm hạnh, này các tỳ khưu, tại trú xứ ấy hoặc trú xứ nào khác, vị tỳ khưu (nguyên cáo) nếu muốn thì vào ngày Uposatha là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, có thể nêu lên giữa hội chúng rằng: “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Sự thảo luận về việc bác bỏ thỏa ước đúng Pháp của nhân vật tên (như vầy) chưa được dứt điểm, sự việc ấy chưa được quyết định. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên quyết định sự việc ấy.”
Nếu sự việc ấy có thể đạt được như vậy, sự việc ấy như thế là tốt đẹp. Nếu không thể đạt được, thì vào ngày Uposatha là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, nên nêu lên giữa hội chúng rằng: “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Sự thảo luận về việc bác bỏ thỏa ước đúng Pháp của nhân vật tên (như vầy) chưa được dứt điểm, sự việc ấy chưa được quyết định. Tôi đình chỉ giới bổn Pātimokkha của vị ấy, giới bổn Pātimokkha không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.”
Sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha là đúng Pháp.
496. Thế nào là vị bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới?
Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới do những hình thức nào, do những đặc tính nào, do những dấu hiệu nào, vị tỳ khưu biết được vị tỳ khưu (khác) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới bởi những hình thức ấy, bởi những đặc tính ấy, bởi những dấu hiệu ấy. Cho dù vị tỳ khưu không biết được vị tỳ khưu (khác) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới nhưng lại có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: “Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới!” Cho dù vị tỳ khưu không biết được vị tỳ khưu (khác) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới và cũng không có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: “Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới!” nhưng chính vị tỳ khưu (can phạm) ấy đã nói với vị tỳ khưu rằng: “Này đại đức, tôi bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới!” Này các tỳ khưu, do được nghe điều ấy, do được thấy điều ấy, do nghi ngờ điều ấy, vị tỳ khưu nếu muốn thì vào ngày Uposatha là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, nên nêu lên giữa hội chúng rằng: “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nhân vật tên (như vầy) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới, tôi đình chỉ giới bổn Pātimokkha của vị ấy, giới bổn Pātimokkha không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.”
Sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha là đúng Pháp.
497. Thế nào là vị bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm?
Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm do những hình thức nào, do những đặc tính nào, do những dấu hiệu nào, vị tỳ khưu biết được vị tỳ khưu (khác) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm bởi những hình thức ấy, bởi những đặc tính ấy, bởi những dấu hiệu ấy. Cho dù vị tỳ khưu không biết được vị tỳ khưu (khác) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm nhưng lại có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: “Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm!” Cho dù vị tỳ khưu không biết được vị tỳ khưu (khác) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm và cũng không có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: “Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm!” nhưng chính vị tỳ khưu (can phạm) ấy đã nói với vị tỳ khưu rằng: “Này đại đức, tôi bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm!” Này các tỳ khưu, do được nghe điều ấy, do được thấy điều ấy, do nghi ngờ điều ấy, vị tỳ khưu nếu muốn thì vào ngày Uposatha là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, có thể nêu lên giữa hội chúng rằng: “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nhân vật tên (như vầy) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm, tôi đình chỉ giới bổn Pātimokkha của vị ấy, giới bổn Pātimokkha không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.”
Sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha là đúng Pháp.
498. Thế nào là vị bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến?
Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến do những hình thức nào, do những đặc tính nào, do những dấu hiệu nào, vị tỳ khưu biết được vị tỳ khưu (khác) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến bởi những hình thức ấy, bởi những đặc tính ấy, bởi những dấu hiệu ấy. Cho dù vị tỳ khưu không biết được vị tỳ khưu (khác) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến nhưng lại có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: “Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến!” Cho dù vị tỳ khưu không biết được vị tỳ khưu (khác) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến và cũng không có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: “Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến!” nhưng chính vị tỳ khưu (can phạm) ấy đã nói với vị tỳ khưu rằng: “Này đại đức, tôi bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến!” Này các tỳ khưu, do được nghe điều ấy, do được thấy điều ấy, do nghi ngờ điều ấy, vị tỳ khưu nếu muốn thì vào ngày Uposatha là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, có thể nêu lên giữa hội chúng rằng: “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nhân vật tên (như vầy) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến, tôi đình chỉ giới bổn Pātimokkha của vị ấy, giới bổn Pātimokkha không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.”
Sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha là đúng Pháp.
Dứt tụng phẩm thứ nhất.