Kinh Viên Giác · HT Duy Lực

BIỆN ÂM BỒ TÁT

Khi ấy Biện Âm Bồ‑tát ở trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, đi nhiễu quanh Phật ba vòng, đảnh lễ chân Phật, chấp tay quỳ gối bạch Phật rằng:

- Đại bi Thế Tôn! Pháp môn này thật là hy hữu. Bạch Thế Tôn! Theo những phương tiện ấy, tất cả Bồ‑tát muốn vào cửa Viên Giác phải có mấy thứ tu tập? Xin Phật vì đại chúng trong hội và chúng sanh đời mạt pháp dùng phương tiện khi thị, khiến ngộ nhập thật tướng.

Ngài Biện Âm Bồ‑tát nói xong, năm vóc gieo sát đất, đảnh lễ thưa thỉnh ba lần như vậy.

Bấy giờ Phật bảo Biện Âm Bồ‑tát rằng:

- Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Ngươi khéo vì đại chúng và chúng sanh đời mạt pháp hỏi Như Lai về sự tu tập như thế, nay ngươi hãy lắng nghe, ta sẽ vì ngươi mà thuyết.

Khi ấy Biện Âm Bồ‑tát và đại chúng hoan hỷ vâng lời Phật dạy, im lặng mà nghe.

- Thiện nam tử! Tất cả Như Lai Viên Giác trong sạch, vốn chẳng có sự tu tập và kẻ tu tập. Tất cả Bồ‑tát và chúng sanh đời mạt pháp nương theo tâm chưa giác, dùng huyễn lực tu tập, khi ấy thì có hai mươi lăm thứ định luân trong sạch:

1. Nếu những Bồ‑tát tu pháp cực tịnh, do sức tịnh được dứt hẳn phiền não, thành tựu rốt ráo nên chẳng rời chỗ ngồi liền vào Niết Bàn, Bồ‑tát này gọi là chuyên tu thiền quán Sa Ma Tha.

2. Nếu những Bồ‑tát tu pháp quán như huyễn, dùng sức Phật tánh biến hóa thế giới và đủ thứ tác dụng để thực hành diệu hạnh trong sạch của Bồ‑tát, nơi pháp tổng trì chẳng lạc mất tịch niệm và tịch huệ, Bồ‑tát này gọi là chuyên tu thiền quán Tam Ma Bát Đề.

3. Nếu những Bồ‑tát chuyên diệt các huyễn, chẳng cần tác dụng mà tự dứt phiền não. Khi phiền não dứt sạch, liền chứng thật tướng, Bồ‑tát này gọi là chuyên tu thiền quán Thiền Na.

4. Nếu những Bồ‑tát trước tu cực tịnh dùng huệ tâm của tịnh để chiếu soi kẻ huyễn (vô minh), liền ở trong đó khởi hạnh Bồ‑tát. Bồ‑tát này gọi là trước tu thiền quán Sa Ma Tha, sau tu thiền quán Tam Ma Bát Đề.

5. Nếu những Bồ‑tát tu theo tịnh huệ, chứng được tánh cực tịnh, liền dứt phiền não, lìa hẳn sanh tử, Bồ‑tát này gọi là trước tu thiền quán Sa Ma Tha, sau tu thiền quán Thiền Na.

6. Nếu những Bồ‑tát tu theo huệ tịch tịnh, lại hiện sức huyễn hóa biến hiện đủ thứ thân tướng để độ chúng sanh, sau mới dứt phiền não mà nhập tịch diệt, Bồ‑tát này gọi là trước tu Sa Ma Tha, giữa tu Tam Ma Bát Đề, sau tu Thiền Na.

7. Nếu những Bồ‑tát dùng sức cực tịnh, dứt phiền não rồi sau mới hành diệu hạnh trong sạch của Bồ‑tát để độ chúng sanh, Bồ‑tát này gọi là trước tu Sa Ma Tha, giữa tu Thiền Na, sau tu Tam Ma Bát Đề.

8. Nếu những Bồ‑tát dùng sức cực tịnh, tâm dứt phiền não rồi lại độ chúng sanh, kiến lập thế giới, Bồ‑tát này gọi là trước Sa Ma Tha, sau đồng thời tu hai thiền quán Tam Ma Bát Đề và Thiền Na.

9. Nếu những Bồ‑tát dùng sức cực tịnh để sanh khởi biến hóa, sau mới dứt phiền não, Bồ‑tát này gọi là trước đồng thời tu hai thiền quán Sa Ma Tha và Tam Ma Bát Đề, sau tu Thiền Na.

10. Nếu những Bồ‑tát dùng sức cực tịnh để đưa đến tịch diệt, sau lại khởi tác dụng biến hóa thế giới, Bồ‑tát này gọi là đồng thời tu hai thiền quán Sa Ma Tha và Thiền Na, sau tu Tam Ma Bát Đề.

11. Nếu những Bồ‑tát dùng sức biến hóa tùy thuận đủ thứ cho đến cực tịnh, Bồ‑tát này gọi là trước tu Tam Ma Bát Đề, sau tu Sa Ma Tha.

12. Nếu những Bồ‑tát dùng sức biến hóa biến hiện đủ thứ cảnh giới mới đến tịch diệt, Bồ‑tát này gọi là trước tu Tam Ma Bát Đề, sau tu Thiền Na.

13. Nếu những Bồ‑tát dùng sức biến hóa để làm Phật sự, an trụ tâm nơi tịch tịch mà dứt phiền não, Bồ‑tát này gọi là trước tu Tam Ma Bát Đề, giữa tu Sa Ma Tha, sau tu Thiền Na.

14. Nếu những Bồ‑tát dùng sức biến hóa tác dụng vô ngại dứt phiền não, an trụ tâm nơi cực tịnh, Bồ‑tát này gọi là trước tu Tam Ma Bát Đề, giữa tu Thiền Na, sau tu Sa Ma Tha.

15. Nếu những Bồ‑tát dùng sức biến hóa tác dụng phương tiện để tùy thuận hai thiền quán cực tịnh tịch diệt, Bồ‑tát này gọi là trước tu Tam Ma Bát Đề, sau tu hai thiền quán Sa Ma Tha và Thiền Na.

16. Nếu những Bồ‑tát dùng sức biến hóa sanh đủ thứ dụng để đến cực tịnh, sau mới dứt phiền não, Bồ‑tát này gọi là trước đồng thời tu hai thiền quán Tam Ma Bát Đề và Sa Ma Tha, sau tu Thiền Na.

17. Nếu những Bồ‑tát dùng sức biến hóa để đưa đến tịch diệt, sau an trụ nơi tịnh lự trong sạch vô tác, Bồ‑tát này gọi là trước đồng thời tu hai thiền quán Tam Ma Bát Đề và Thiền Na, sau tu Sa Ma Tha.

18. Nếu những Bồ‑tát dùng sức tịch diệt mà sanh khởi cực tịnh, trụ nơi thanh tịnh, Bồ‑tát này gọi là trước Thiền Na, sau tu Sa Ma Tha.

19. Nếu những Bồ‑tát dùng sức tịch diệt mà sanh khởi tác dụng, tùy thuận công dụng tịch chiếu để chiếu soi tất cả cảnh, Bồ‑tát này gọi là trước Thiền Na, sau tu Tam Ma Bát Đề.

20. Nếu những Bồ‑tát dùng sức tịch diệt tùy đủ thứ tánh an trụ nơi tịnh lự mà sanh khởi biến hóa, Bồ‑tát này gọi là trước tu Thiền Na, giữa tu Sa Ma Tha, sau tu Tam Ma Bát Đề.

21. Nếu những Bồ‑tát dùng sức tịch diệt và tự tánh vô tác nơi cảnh giới trong sạch sanh khởi tác dụng rồi trở về tịnh lự, Bồ‑tát này gọi là trước tu Thiền Na, giữa tu Tam Ma Bát Đề, sau tu Sa Ma Tha.

22. Nếu những Bồ‑tát dùng sức tịch diệt mỗi mỗi thanh tịnh trụ nơi tịnh lự mà sanh khởi biến hóa, Bồ‑tát này gọi là trước tu Thiền Na, sau đồng thời tu hai thiền quán Sa Ma Tha và Tam Ma Bát Đề.

23. Nếu những Bồ‑tát dùng sức tịch diệt để đưa đến cực tịnh mà sanh khởi biến hóa, Bồ‑tát này gọi là trước đồng thời tu hai thiền quán Thiền Na và Sa Ma Tha, sau tu Tam Ma Bát Đề.

24. Nếu những Bồ‑tát dùng sức tịch diệt sanh khởi biến hóa, đưa đến cảnh huệ trong sạch sáng tỏ của cực tịnh, Bồ‑tát này gọi là trước đồng thời tu hai thiền quán Thiền Na và Tam Ma Bát Đề, sau tu Sa Ma Tha.

25. Nếu những Bồ‑tát dùng trí huệ Viên Giác chiếu soi, đầy khắp tất cả các tánh các tướng mà chẳng lìa giác tánh, Bồ‑tát này gọi là tùy thuận vốn trong sạch của tự tánh mà viên tu ba thứ quán.

Thiện nam tử! Những thiền quán kể trên gọi chung là hai mươi lăm định luân của Bồ‑tát, tất cả Bồ‑tát và chúng sanh đời mạt pháp nếu tu theo định luân này nên thực hành như thế: phải trì phạm hạnh (thực hành thanh tịnh hạnh), im lặng quán tưởng thiết tha cầu sám hối trải qua hai mươi mốt ngày, ở nơi hai mươi lăm định luân, mỗi mỗi đều ghi dấu cho rõ ràng rồi thành tâm khẩn cầu, rồi tùy tay lấy một dấu hiệu, y theo dấu hiệu đã ghi liền biết rõ các pháp đốn tiệm, pháp nào thích hợp với mình, nếu có một niệm nghi hoặc thì chẳng thể thành tựu.

Lúc ấy Thế Tôn muốn giảng lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:

Biện Âm ngươi nên biết,
Tất cả các Bồ‑tát,
Huệ trong sạch vô ngại.
Đều nương thiền định sanh,
Gọi là Sa Ma Tha.
Tam Ma Đề, Thiền Na.
Theo ba pháp đốn tiệm,
Có hai mươi lăm thứ.
Mười phương chư Như Lai,
Tất cả người tu hành,
Đều do tu pháp này,
Mà được thành Bồ Đề.
Chỉ trừ kẻ đốn ngộ (kẻ tham Tổ Sư Thiền)
Và Xiển Đề chẳng tin (kẻ chẳng tin Phật pháp).
Tất cả các Bồ‑tát,
Và chúng sanh mạt pháp,
Thường nên giữ luân này.
Tùy thuận siêng tu tập.
Theo sức đại bi Phật,
Chẳng lâu chứng Niết Bàn.