Kinh Quán Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh Pháp · Linh Sơn Pháp Bảo dịch
2. BỒ TÁT PHỔ HIỀN VÀ VOI TRẮNG SÁU NGÀ
Phật bảo A Nan:
- Này A Nan, hãy lắng nghe và khéo suy nghĩ! Xưa kia ở núi Kỳ Xà Quật và những nơi khác, Như Lai đã giải thích rộng về đạo Nhất thật. Giờ đây, tại nơi này, Như Lai sẽ vì những chúng sinh đời vị lai người nào muốn thực hành pháp Đại thừa Vô thượng, muốn học và thực hành hạnh Phổ Hiền thì giờ đây ta sẽ nói pháp hãy nghĩ nhớ, nếu thấy hay không thấy được Bồ tát Phổ Hiền, đều trừ được các tội lỗi. Giờ đây ta sẽ giải thích rộng cho các ông biết.
- Này A Nan! Bồ tát Phổ Hiền sinh tại cõi nước Tịnh Diệu ở phương Đông. Hình tướng cõi nước ấy đã nói rộng trong kinh Pháp Hoa, ở đây Như Lai chỉ nói lược.
- Này A Nan! Nếu có Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, trời, rồng, quỷ thần và tất cả chúng sinh nào tụng kinh Đại thừa, tu pháp Đại thừa, phát tâm Đại thừa, thích thấy sắc thân Bồ tát Phổ Hiền, thích thấy tháp Phật Đa Bảo, thích thấy đức Phật Thích Ca Mâu Ni và các đức Phật phân thân, cũng như muốn được Lục căn thanh tịnh thì phải học pháp quán này.
- Công đức của pháp quán này trừ được các chướng ngại, thấy được sắc tốt đẹp, không cần nhập Tam ma địa, chỉ nhờ đọc tụng, chuyên tâm tu tập liên tục, không rời pháp Đại thừa, từ một ngày đến hai mươi mốt ngày thấy được Bồ tát Phổ Hiền. Những người nghiệp nặng hơn thì qua bốn mươi chín ngày sẽ được thấy, lại có người nghiệp nặng một đời, hai đời, ba đời,… sẽ được thấy.
- Vì các loại nghiệp báo như thế không đồng nên Như Lai nói khác nhau.
- Vì người ở cõi Diêm Phù Đề có ba chướng nặng, mà thân tướng, âm thanh, sắc tượng của Bồ tát Phổ Hiền lại vô biên, nên muốn đến nước này, Bồ tát phải nhập thần thông tự tại, làm cho thân hình nhỏ đi và dùng sức trí huệ hóa hiện cỡi voi trắng.
- Con voi ấy có sáu ngà, bảy chi chống đất, dưới bảy chi có mọc bảy hoa sen. Sắc voi trắng tinh dù núi tuyết pha lê cũng không sánh kịp. Thân voi dài bốn trăm năm mươi do tuần, cao bốn trăm do tuần. Ở đầu sáu ngà có sáu ao tắm, trong mỗi ao tắm có bốn mươi hoa sen to bằng cái ao. Hoa ấy nở ra giống như hoa cây Thiên thọ vương. Trên mỗi hoa có một ngọc nữ nhan sắc rực rỡ hơn Thiên nữ. Trong tay mỗi ngọc nữ tự nhiên hóa ra năm cây đàn không hầu, mỗi cây có năm trăm nhạc cụ kèm theo. Giữa những lá hoa có năm trăm con chim màu sắc đẹp đẽ như: chim nhạn, con cứu, chim uyên ương đầu có nhiều màu sắc quý báu.
- Vòi voi có hoa, thân đỏ như trân châu, các hoa màu vàng thì còn búp chưa nở. Thấy thế, hành giả lại càng sám hối, dốc lòng quán sát và suy nghĩ kỹ và tư duy pháp Đại thừa, tâm không ngừng nghỉ thì thấy hoa nở màu sắc vàng, ánh sáng vàng. Đài hoa làm bằng chất báu chân thúc ca, nhụy hoa bằng ma ni diệu phạm, tua hoa bằng châu báu kim cang, đức hóa Phật ngồi trên đài hoa, rất đông các Bồ tát ngồi trên tua hoa. Giữa hai đầu chân mày của đức hóa Phật cũng phát ra ánh sáng vàng đi vào vòi voi, từ vòi voi chiếu ra đi vào mắt voi, từ mắt voi chiếu ra đi vào tai voi, từ tai voi chiếu ra đi lên đầu voi, hóa thành đài vàng.
- Trên đầu voi có ba vị hóa nhân, một người cầm bánh xe vàng, một người cầm hạt châu ma ni, một người cầm chày kim cang và đưa chày lên điều khiển voi. Khi voi đi, chân không sát đất, cách đất bảy thước, lướt nhẹ trên không, nhưng lại có dấu in trên mặt đất. Trong mỗi dấu in có vành bánh xe ngàn căm, giữa mỗi vành xe có một hoa sen lớn. Trên mỗi hoa sen có một con voi hóa hiện cũng có bảy chi và đi theo voi lớn.
- Con voi ấy giở chân, hạ chân lại hóa sinh bảy ngàn con voi làm quyến thuộc cũng đi theo voi lớn, mũi voi màu hoa sen hồng. Trên hoa sen đỏ ở vòi voi có đức hóa Phật phát ánh sáng từ giữa hai đầu chân mày. Ánh sáng ấy màu vàng chiếu vào vòi voi như trước, từ vòi voi chiếu ra đi vào mắt voi, từ mắt voi chiếu ra đi vào tai voi, từ tai voi chiếu ra đi vào cổ voi, dần dần chiếu đến lưng voi hóa thành yên vàng trang bị đầy đủ bảy chất báu. Bốn mặt yên có bảy cột báu, các thứ trang sức bằng báu hợp thành đài báu. Trong đài có một hoa sen bảy báu, tua hoa do trăm thứ báu hợp thành, đài hoa bằng ma ni lớn, có một vị Bồ tát ngồi kiết già trên đó, tên là Phổ Hiền.
- Thân Bồ tát màu ngọc trắng, phát ra năm mươi thứ ánh sáng. Năm mươi màu sắc đó tạo thành ánh sáng quanh đầu. Các lỗ chân lông trên thân Bồ tát đều phát ra ánh sáng vàng. Trên đầu ánh sáng ấy có vô lượng hóa Phật, các hóa Bồ tát làm quyến thuộc, bước đi khoan thai, trời mưa hoa báu lớn đến trước mặt hành giả. Con voi ấy há miệng, có các ngọc nữ trong ao tắm trên ngà voi trổi nhạc ca hát, âm thanh réo rắt, khen ngợi đạo Nhất thật Đại thừa.
Hành giả thấy vậy vui mừng, cung kính đảnh lễ, lại đọc tụng kinh điển sâu xa, đảnh lễ vô lượng đức Phật ở khắp mười phương, đảnh lễ tháp Phật Đa Bảo và đức Thích Ca Mâu Ni, đảnh lễ Bồ tát Phổ Hiền và các Đại Bồ tát, phát thệ nguyện:
- Nếu con có phước đức đời trước, con sẽ được thấy Bồ tát Phổ Hiền, xin Ngài ban sự an lành, cho con thấy được sắc thân.
Phát nguyện xong, ngày đêm sáu thời, hành giả lạy mười phương Phật, tu pháp sám hối, đọc tụng kinh Đại thừa, suy nghĩ nghĩa lý Đại thừa, nhớ việc Đại thừa, cung kính cúng dường người trì kinh Đại thừa, xem mọi người như Phật, nghĩ chúng sinh như cha mẹ. Nghĩ xong, Bồ tát Phổ Hiền liền từ giữa chặn mày phóng ánh sáng trắng tướng Đại nhân.
Khi ánh sáng ấy xuất hiện, thân tướng Bồ tát Phổ Hiền đoan nghiêm đẹp đẽ như núi vàng ròng, có đủ ba mươi hai tướng tốt. Các lỗ chân lông trên thân Bồ tát phóng ra ánh sáng chiếu rọi trên voi lớn biến thành màu vàng, các con voi biến hóa cũng thành màu vàng, các hóa Bồ tát cũng có màu vàng, ánh sáng đó chiếu đến vô lượng cõi ở phương Đông đều biến chúng thành màu vàng. Các cõi nước ở phương Tây, Nam, Bắc, bốn phía, trên, dưới cũng như vậy.
Bấy giờ mỗi phương trong mười phương có một Bồ tát cưỡi voi trắng đầu đàn sáu ngà như ngài Phổ Hiền không khác và có vô lượng, vô biên voi biến hóa tràn ngập trong mười phương như thế, nhờ năng lực thần thông của Bồ tát Phổ Hiền giúp cho người trì kinh thảy đều được thấy. Bấy giờ hành giả thấy các Bồ tát nên thân tâm vui mừng, bèn đảnh lễ, bạch:
- Xin Đấng Đại Từ Bi thương xót con, nói pháp cho con!
Nói xong các vị Bồ tát đồng thanh nói kinh pháp Đại thừa thanh tịnh, làm các bài kệ khen ngợi hành giả. Đó là pháp quán ban đầu về cảnh giới đầu tiên của Bồ tát Phổ Hiền.