Kinh Hoa Nghiêm · HT Thích Trí Tịnh
PHẨM 39.NHẬP PHÁP GIỚI - ĐẲNG GIÁC - THIÊN CHỦ QUANG ĐẾN HỮU ĐỨC
42 Thiện Tài đến Thiên Cung Đao Lợi, đảnh lễ Thiên nữ Thiên Chủ Quang, hữu nhiễu cung kính, chắp tay thưa rằng: Đại thánh! Tôi đã phát tâm vô thượng bồ đề mà chưa biết Bồ‑tát thế nào học Bồ‑tát hạnh, thế nào tu Bồ‑tát đạo? Tôi nghe Đại thánh khéo có thể dạy bảo, xin chỉ dạy cho. Thiện Nữ nói: Nầy Thiện nam tử! Ta được Bồ‑tát giải thoát môn tên là vô ngại niệm thanh tịnh trang nghiêm. Nầy Thiện nam tử! Ta ở nơi thế lực của môn giải thoát nầy, ghi nhớ quá khứ có một kiếp tên là thanh liên hoa. Trong kiếp đó, ta cúng dường hằng hà sa số chư Phật Như Lai. Chư Như Lai ấy từ khi mới xuất gia, ta đều săn sóc kính thờ kiến tạo tăng già lam, sắm sửa vật dụng. Lại lúc chư Phật ấy làm Bồ‑tát ở thai mẹ, lúc đản sanh, lúc đi bảy bước, lúc đại sư tử hống, lúc làm đồng tử ở tại cung, lúc đến cội bồ đề thành Đẳng Chánh Giác, lúc Chuyển pháp luân hiện thần biến giáo hóa điều phục chúng sanh, tất cả sự việc nhẫn đến pháp tận, ta đều ghi nhớ rõ không sai sót. Ta lại nhớ kiếp quá khứ tên là Thiện Địa, trong kiếp ấy ta cúng dường mười hằng hà sa số chư Phật Như Lai. Ta lại nhớ kiếp quá khứ tên là Diệu Đức, trong kiếp ấy ta cúng dường một phật sát vi trần số chư Phật Như Lai. Ta lại nhớ kiếp quá khứ tên là Vô Sở Đắc, trong kiếp ấy ta cúng dường tám mươi bốn ức trăm ngàn na do tha chư Phật Như Lai. Ta lại nhớ kiếp quá khứ tên là Thiện Quang trong kiếp ấy ta cúng dường diêm phù đề vi trần số chư Phật Như Lai. Ta lại nhớ kiếp quá khứ tên là Vô Lượng Quang, trong kiếp ấy ta cúng dường hai mươi hằng hà sa số chư Phật Như Lai. Ta lại nhớ kiếp quá khứ tên là Tối Thắng Đức, trong kiếp ấy ta cúng dường một hằng hà sa số chư Phật Như Lai. Ta lại nhớ kiếp quá khứ tên là Thiện Bi, trong kiếp ấy ta cúng dường tám mươi hằng hà sa số chư Phật Như Lai. Ta lại nhớ kiếp quá khứ tên là Thắng Du, trong kiếp ấy ta cúng dường sáu mươi hằng hà sa số chư Phật Như Lai. Ta lại nhớ kiếp quá khứ tên là Diệu Nguyệt, trong kiếp ấy ta cúng dường bảy mươi hằng hà sa số chư Phật Như Lai. Nầy Thiện nam tử! Ghi nhớ quá khứ hằng hà sa số kiếp như vậy, ta thường chẳng bỏ rời chư Phật Như Lai Chánh Đẳng Giác. Ở chỗ chư Như Lai như vậy ta nghe môn giải thoát Bồ‑tát vô ngại niệm thanh tịnh trang nghiêm nầy thọ trì tu hành hằng chẳng quên mất. Những kiếp trước như vậy có bao nhiêu đức Như Lai từ sơ Bồ‑tát nhẫn đến pháp tận, tất cả sự việc của chư Phật đã làm, ta dùng sức giải thoát thanh tịnh trang nghiêm, đều ghi nhớ rõ ràng như hiện trước mắt, và ta giữ gìn tùy thuận tuân hành từng không bỏ phế. Nầy Thiện nam tử! Ta chỉ biết môn giải thoát vô ngại niệm thanh tịnh trang nghiêm nầy. Như chư Đại Bồ‑tát ra khỏi đêm sanh tử, sáng suốt rời hẳn si tối, chưa từng mê ngủ, tâm không bị che chướng, thân luôn khinh an, thanh tịnh biết rõ các pháp tánh, thành tựu thập lực khai ngộ quần sanh. Ta thế nào biết được nói được công đức hạnh đó. Nầy Thiện nam tử! Thành CA Tỳ La có Đồng Tử Sư tên là Biến Hữu. Ngươi đến đó hỏi Bồ‑tát thế nào học Bồ‑tát hạnh, tu Bồ‑tát đạo. Nhờ nghe pháp, Thiện Tài vui mừng hớn hở thiện căn bất tư nghì tự nhiên thêm lớn rộng, bèn đảnh lễ nơi chân Thiên nữ Thiên Chủ Quang, hữu nhiễu vô số vòng từ tạ mà đi. 43 Thiện Tài từ Thiên Cung xuống đi lần đến thành CA Tỳ La chỗ của Biến Hữu đảnh lễ hữu nhiễu, đứng chắp tay cung kính thưa rằng: Đại thánh! Tôi đã phát tâm vô thượng bồ đề, mà chưa biết Bồ‑tát thế nào học Bồ‑tát hạnh, thế nào tu Bồ‑tát đạo? Tôi nghe Đại thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho. Biến Hữu nói: Nầy Thiện nam tử! Nơi đây có Đồng Tử tên là Thiện Tri Chúng Nghệ Học Bồ‑tát Tự Trí, ngươi nên đến hỏi. 44 Thiện Tài vâng lời đến đảnh lễ đồng tử, cung kính thưa rằng: Bạch đức thánh! Tôi đã phát tâm vô thượng bồ đề mà chưa biết Bồ‑tát thế nào học Bồ‑tát hạnh, thế nào tu Bồ‑tát đạo. Tôi nghe đức thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho. Đồng Tử nói: Nầy Thiện nam tử! Ta được Bồ‑tát giải thoát môn tên là thiện tri chúng nghệ. Ta hằng xướng trì những tự mẫu nầy: Lúc xướng chữ A, thời nhập Bát nhã Ba la mật môn tên là Bồ‑tát oai lực nhập vô sai biệt cảnh giới. Lúc xướng chữ ĐA, thời nhập Bát nhã Ba la mật môn tên là vô biên sai biệt môn. Lúc xướng chữ BA, thời nhập Bát nhã Ba la mật môn tên là phổ chiếu Pháp giới. Lúc xướng chữ GIẢ, thời nhập Bát nhã Ba la mật môn tên là phổ luân đoạn sai biệt. Lúc xướng chữ NA, thời nhập Bát nhã Ba la mật môn tên là đắc vô y vô thượng. Lúc xướng chữ LÃ, thời nhập Bát nhã Ba la mật môn tên là y chỉ vô cấu. Lúc xướng chữ ĐẢ, thời nhập Bát nhã Ba la mật môn tên là bất thối chuyển phương tiện. Lúc xướng chữ BÀ, thời nhập Bát nhã Ba la mật môn tên là kim cang tràng. Lúc xướng chữ ĐỒ, thời nhập Bát nhã Ba la mật môn tên là nhật phổ luân. Lúc xướng chữ SA, thời nhập Bát nhã Ba la mật môn tên là hải tạng. Lúc xướng chữ PHƯỢC, thời nhập Bát nhã Ba la mật môn tên là phổ sanh an trụ. Lúc xướng chữ ĐÁ, thời nhập Bát nhã Ba la mật môn tên là viên mãn quang. Lúc xướng chữ DÃ, thời nhập Bát nhã Ba la mật môn tên là sai biệt tích tụ. Lúc xướng chữ SẮC TRA, thời nhập Bát nhã Ba la mật môn tên là phổ quang minh tức phiền não. Lúc xướng chữ CA, thời nhập Bát nhã Ba la mật môn tên là Vô sai biệt vân. Lúc xướng chữ TA, thời nhập Bát nhã Ba la mật môn tên là giáng chú đại vũ. Lúc xướng chữ MẠ, thời nhập Bát nhã Ba la mật môn tên là đại lưu thoan khích chúng phong tề trĩ. Lúc xướng chữ GIÀ, thời nhập môn Bát nhã Ba la mật tên là phổ an lập. Lúc xướng chữ THA, thời nhập môn Bát nhã Ba la mật tên là chơn như bình đẳng tạng. Lúc xướng chữ XÃ, thời nhập môn Bát nhã Ba la mật tên là nhập thế gian hải thanh tịnh. Lúc xướng chữ TỎA, thời nhập môn Bát nhã Ba la mật tên là niệm nhứt thiết phật trang nghiêm. Lúc xướng chữ ĐÀ, thời nhập môn Bát nhã Ba la mật tên là quán sát giản trạch nhất thiết pháp tụ. Lúc xướng chữ XA, thời nhập môn Bát nhã Ba la mật tên là tùy thuận nhất thiết phật giáo luân quang minh. Lúc xướng chữ KHƯ, thời nhập môn Bát nhã Ba la mật tên là tu nhơn địa trí huệ tạng. Lúc xướng chữ XOA, thời nhập môn Bát nhã Ba la mật tên là tức chư nghiệp hải tạng. Lúc xướng chữ TA ĐA, thời nhập môn Bát nhã Ba la mật tên là quyên chư hoặc chướng khai tịnh quang minh. Lúc xướng chữ NHƯƠNG, thời nhập môn Bát nhã Ba la mật tên là tác thế gian trí huệ môn. Lúc xướng chữ HẠT LÃ ĐA, thời nhập môn Bát nhã Ba la mật tên là sanh tử cảnh giới trí huệ luân. Lúc xướng chữ BÀ, thời nhập môn Bát nhã Ba la mật tên là nhất thiết trí cung điện viên mãn trang nghiêm. Lúc xướng chữ XA, thời nhập môn Bát nhã Ba la mật tên là tu hành phương tiện tạng các biệt viên mãn. Lúc xướng chữ TA MẠ, thời nhập môn Bát nhã Ba la mật tên là tùy thập phương hiện kiến chư phật. Lúc xướng chữ HA BÀ, thời nhập môn Bát nhã Ba la mật tên là quán sát nhất thiết vô duyên chúng sanh phương tiện nhiếp thọ linh xuất sanh vô ngại lực. Lúc xướng chữ THA, thời nhập môn Bát nhã Ba la mật tên là tu hành xu nhập nhất thiết công đức hải. Lúc xướng chữ GIÀ, thời nhập môn Bát nhã Ba la mật tên là trì nhất thiết pháp vân kiên cố hải tạng. Lúc xướng chữ TRA, thời nhập môn Bát nhã Ba la mật tên là tùy nguyện phổ kiến thập phương chư Phật. Lúc xướng chữ NÃ, thời nhập môn Bát nhã Ba la mật tên là quán sát tự luân hữu vô tận chư ức tự. Lúc xướng chữ TA PHÃ, thời nhập môn Bát nhã Ba la mật tên là hóa chúng sanh cứu cánh xứ. Lúc xướng chữ TA CA, thời nhập môn Bát nhã Ba la mật tên là quảng đại tạng vô ngại biện quang minh luân biến chiếu. Lúc xướng chữ DÃ TA, thời nhập môn Bát nhã Ba la mật tên là tuyên thuyết nhất thiết Phật pháp cảnh giới. Lúc xướng chữ THẤT, thời nhập môn Bát nhã Ba la mật tên là nhất thiết chúng sanh giới pháp lôi biến hống. Lúc xướng chữ SÁ, thời nhập môn Bát nhã Ba la mật tên là dĩ vô ngã pháp khai hiểu chúng sanh. Lúc xướng chữ ĐÀ, thời nhập môn Bát nhã Ba la mật tên là nhất thiết pháp luân sai biệt tạng. Nầy Thiện nam tử! Lúc ta xướng những tự mẫu như vậy, thời trước tiên ta nhập bốn mươi hai môn Bát nhã Ba la mật đây cùng với vô lượng vô số môn Bát nhã Ba la mật. Nầy Thiện nam tử! Ta chỉ biết môn giải thoát Bồ‑tát thiện tri chúng nghệ nầy. Như chư Đại Bồ‑tát có thể đối với pháp thiện xảo thế gian và xuất thế gian dùng trí thông đạt đến bỉ ngạn. Những phương pháp lạ, những nghề nghiệp khéo đều thấu đáo không sót. Hiểu rành những văn tự toán số, Y phương, chú thật, trị lành bịnh tật. Lại biết rành những chỗ sản xuất vàng, bạc, châu, ngọc, san hô, lưu ly, ma ni, xa cừ, tất cả kho tàng bửu vật, những phẩm loại, những giá trị. Những xóm làng thành ấp, cung điện vườn tược, núi, rừng, suối, ao phàm những chỗ ở của tất cả nhơn chúng, Bồ‑tát đều có thể phương tiện nhiếp thọ. Bồ‑tát lại khéo quán sát thiên văn, địa lý, tướng người tốt xấu, tiếng của chim thú, mây ráng khí hậu, trúng mùa, thất thu, quốc độ an nguy, tất cả kỹ nghệ thế gian Bồ‑tát đều rành rẽ tận nguyên bổn tất cả. Bồ‑tát lại có thể phân biệt pháp xuất thế, chánh danh biện nghĩa quán sát thể tướng, tùy thuận tu hành, trí nhập trong đó, không nghi ngại, không ngu tối, không ngoan độn, không ưu não, không trầm một, đều hiện chứng tất cả. Ta thế nào biết được, nói được công đức hạnh đó. Nầy Thiện nam từ! Nước Ma Kiệt Đà có một tụ lạc, trong đó có thành Bà Đát Na. Trong thành ấy có một Ưu bà di tên là Hiền thắng. Ngươi đến đó hỏi Bồ‑tát thế nào học Bồ‑tát hạnh, tu Bồ‑tát đạo? Thiện Tài đảnh lễ Tri Nghệ Đồng Tử, hữu nhiễu vô số vòng, luyến mộ chiêm ngưỡng từ tạ mà đi. 45 Thiện Tài đến thành Bà Đát Na đảnh lễ Hiền Thắng, hữu nhiễu cung kính, chắp tay thưa rằng: Bạch đức thánh! Tôi đã phát tâm vô thượng bồ đề, mà chưa biết Bồ‑tát thế nào học Bồ‑tát hạnh, thế nào tu Bồ‑tát đạo. Tôi nghe đức thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho. Ưu bà di Hiền Thắng nói: Nầy Thiện nam từ! Ta được môn Bồ‑tát giải thoát tên là vô y xứ đạo tràng. Nơi môn giải thoát nầy, ta đã thông đạt và đem dạy người. Ta lại được môn vô tận Tam ma địa, vì có thể xuất sanh nhất thiết trí tánh nhãn vô tận, nhĩ vô tận, tỹ vô tận, thiệt vô tân, thân vô tận, ý vô tận, công đức vô tận, trí huệ vô tận, thần thông vô tận. Nầy Thiện nam tử! Ta chỉ biết môn Bồ‑tát giải thoát vô y xứ đạo tràng nầy. Như chư Đại Bồ‑tát tất cả công đức hạnh không chắp trước, ta thế nào biết được nói được. Nầy Thiện nam từ! Phương nam có thành Ốc Điền. Trong thành ấy có trưởng giả Kiên Cố Giải Thoát. Ngươi nên đến đó hỏi Bồ‑tát thế nào học Bồ‑tát hạnh, thế nào tu Bồ‑tát đạo? 46 Thiện Tài đảnh lễ Hiền Thắng, hữu nhiễu vô số vòng, luyến mộ chiêm ngưỡng từ tạ mà đi qua hướng nam đến chỗ trưởng giả đảnh lễ hữu nhiễu cung kính chắp tay thưa rằng: Bạch đức thánh! Tôi đã phát tâm vô thượng bồ đề, mà chưa biết Bồ‑tát thế nào học Bồ‑tát hạnh, thế nào tu Bồ‑tát đạo. Tôi nghe đức thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho. Trưởng giả nói: Nầy Thiện nam tử! Ta được môn Bồ‑tát giải thoát tên là vô trước niệm thanh tịnh trang nghiêm. Từ khi ta được môn giải thoát nầy đến nay, ta siêng cầu Chánh pháp nơi thập phương chư Phật không thôi dứt. Nầy Thiện nam tử! Ta chỉ biết môn giải thoát vô trước niệm thanh tịnh trang nghiêm. Như chư Đại Bồ‑tát được vô úy sư tử hống, an trụ nơi phước trí quảng đại, mà ta thế nào biết được, nói được công đức hạnh ấy. Nầy Thiện nam tử! Chính trong thành nầy có một trưởng giả tên là Diệu Nguyệt, nhà ông thường có quang minh. Ngươi đến đó hỏi Bồ‑tát thế nào học Bồ‑tát hạnh, thế nào tu Bồ‑tát đạo? Thiện Tài đảnh lễ trưởng giả Kiên Cố Giải Thoát, hữu nhiễu vô số vòng, từ tạ đi đến nhà trưởng giả Diệu Nguyệt đảnh lễ hữu nhiễu, cung kính chắp tay thưa rằng: 47 Bạch đức thánh! Tôi đã phát tâm vô thượng bồ đề mà chưa biết Bồ‑tát thế nào học Bồ‑tát hạnh, thế nào tu Bồ‑tát đạo. Tôi nghe đức thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho. Trưởng giả Diệu Nguyệt nói: Nầy Thiện nam tử! Ta được Bồ‑tát giải thoát tên là tịnh trí quang minh. Nầy Thiện nam tử! Ta chỉ biết môn giải thoát nầy. Như chư Đại Bồ‑tát chứng được vô lượng môn giải thoát. Ta thế nào biết được nói được công đức hạnh ấy. Nầy Thiện nam tử! Phương nam có thành Xuất Sanh. Nơi đó có trưởng giả tên là Vô Thắng Quân. Ngươi đến đó hỏi Bồ‑tát thế nào học Bồ‑tát hạnh, thế nào tu Bồ‑tát đạo? Thiện Tài đảnh lễ trưởng giả Diệu Nguyệt, hữu nhiễu vô số vòng, từ tạ đi qua phương nam, đến đảnh lễ trưởng giả Vô Thắng Quân, cung kính thưa rằng: 48 Bạch đức thánh! Tôi đã phát tâm vô thượng bồ đề, mà chưa biết Bồ‑tát thế nào học Bồ‑tát hạnh, thế nào tu Bồ‑tát đạo. Tôi nghe đức thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho. Trưởng giả Vô Thắng Quân nói: Nầy Thiện nam tử! Ta được Bồ‑tát giải thoát tên là vô tận tướng. Ta do chứng môn Bồ‑tát giải thoát nầy nên thấy vô lượng chư Phật, được vô tận tạng. Nầy Thiện nam tử! Ta chỉ biết môn giải thoát vô tận tướng nầy, như chư Đại Bồ‑tát được vô hạng trí, được vô ngại biện tài ta làm sao biết được nói được công đức hạnh ấy. Nầy Thiện nam tử! Thành Nam nầy có tụ lạc Chi vi pháp, trong đó có một Bà la môn tên là Tối Tịch Tịnh, ngươi đến đó hỏi thế nào học Bồ‑tát hạnh, tu Bồ‑tát đạo? Thiện Tài đảnh lễ trưởng giả Vô Thắng Quân, hữu nhiễu vô số vòng, luyến mộ chiêm ngưỡng từ tạ đi đến đảnh lễ Tối Tịch Tịnh, hữu nhiễu cung kính chắp tay thưa rằng: Bạch đức thánh, tôi đã phát tâm vô thượng bồ đề mà chưa biết Bồ‑tát thế nào học Bồ‑tát hạnh, thế nào tu Bồ‑tát đạo? Tôi nghe đức thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho. Bà la môn nói: Nầy Thiện nam tử! Ta được môn Bồ‑tát giải thoát tên là Thành nguyện ngữ, chư Bồ‑tát quá khứ, hiện tại và vị lai, do dùng lời nói chân thành nầy nên được bất thối chuyển nơi đạo bồ đề; không đã thối, không hiện thối, không sẽ thối; do ta trụ nơi lời nói thành nguyện nên làm điều chi cũng được toại ý. Nầy Thiện nam tử! Ta chỉ biết môn giải thoát Thành nguyện ngữ nầy, như chư Đại Bồ‑tát đi đứng đều chẳng trái với Thành nguyện ngữ, lời nói ra quyết là chân thành chưa bao giờ hư vọng, do đây xuất sanh vô lượng công đức, ta làm sao biết được nói được công đức hạnh đó. Nầy Thiện nam tử! Phương Nam đây có thành tên là Diệu ý quang môn, nơi đó có đồng tử tên là Đức Sanh lại có đồng nữ tên là Hữu Đức, ngươi đến đó hỏi, Bồ‑tát thế nào học Bồ‑tát hạnh, thế nào tu Bồ‑tát đạo. Thiện Tài đảnh lễ Tối Tịch Tịnh, hữu nhiễu vô số vòng từ tạ đi qua phương Nam, Thiện Tài đi lần đến thành Diệu ý quang môn, đảnh lễ đồng tử Đức Sanh và đồng nữ Hữu Đức, hữu nhiễu cung kính chắp tay bạch rằng:
Đức thánh, tôi đã phát tâm vô thượng bồ đề, mà chưa biết thế nào học Bồ‑tát hạnh, thế nào tu Bồ‑tát đạo? Xin đức thánh từ mẫn chỉ dạy. Đức Sanh và Hữu Đức nói: Này Thiện nam tử! Chúng ta chứng được Bồ‑tát giải thoát tên là Huyễn trụ, vì được môn giải thoát này nên thấy tất cả thế giới đều là huyễn trụ, do nhân duyên mà sanh khởi; tất cả chúng sanh đều là huyễn trụ do nghiệp phiền não mà khởi; tất cả chúng sanh đều là huyễn trụ do nghiệp phiền não mà sanh khởi, tất cả thế gian đều là huyễn trụ do vô minh hữu ái, xoay vần là duyên sanh khởi; tất cả pháp đều là huyễn trụ, do những huyễn duyên ngã kiến v.v... sanh khởi; tất cả tam thế đều là huyễn trụ, do những điên đảo trí ngã kiến sanh khởi; tất cả chúng sanh, sanh diệt, sanh lão bịnh tử, ưu bi khổ não đều là huyễn trụ do hư vọng phân biệt sanh khởi; tất cả quốc độ đều là huyễn trụ do tưởng đảo, tâm đảo, kiến đảo và vô minh hiện khởi; tất cả Thanh văn và Bích chi Phật đều là huyễn trụ do trí đoạn phân biệt mà thành; Tất cả Bồ‑tát đều là huyễn trụ, do những hạnh nguyện hay tự điều phục và giáo hóa chúng sanh mà thành. Tất cả Phật Bồ‑tát chúng hội biến hóa điều phục, những công hạnh đều là huyễn trụ, do nguyện trí huyễn mà thành. Nầy Thiện nam tử! Huyễn cảnh tự tánh bất tư nghì. Chúng ta chỉ biết môn giải thoát huyễn trụ nầy. Như chư Đại Bồ‑tát khéo nhập vô biên sự huyễn. Chúng ta thế nào biết được nói được công đức hạnh đó. Đồng Tử và Đồng Nữ nói môn giải thoát của mình đã chứng xong, dùng sức thiện căn bất tư nghì làm cho thân Thiện Tài được nhu nhuyến bóng sáng, mà nói rằng: Nầy Thiện nam tử! Phương nam đây có nước Hải Ngạn. Trong nước ấy có khu vườn Đại Trang Nghiêm. Trong vườn có một tòa lâu các rộng lớn tên là Tỳ Lô Giá Na Trang Nghiêm Tạng. Lâu các nầy có ra là do Bồ‑tát thiện căn quả báo, do Bồ‑tát niệm lực, nguyện lực, tự tại lực, thần thông lực, do Bồ‑tát thiện xảo phương tiện, do Bồ‑tát phước đức trí huệ. Nầy Thiện nam tử! Bồ‑tát trụ bất tư nghì giải thoát dùng tâm đại bi vì các chúng sanh mà hiện cảnh giới như vậy, chứa họp những trang nghiêm như vậy. Di Lặc Đại Bồ‑tát ở trong lâu các ấy để nhiếp thọ phụ mẫu quyến thuộc và nhơn dân làm cho họ được thành thục. Lại muốn cho những chúng sanh đồng thọ sanh, đồng tu hành ở trong đại thừa được kiên cố. Lại muốn cho tất cả chúng sanh ấy, tùy bậc tùy thiện căn, đều được thành tựu. Lại cũng muốn vì ngươi mà hiển thị môn Bồ‑tát giải thoát, hiển thị Bồ‑tát khắp tất cả chỗ thọ sanh tự tại, hiển thị Bồ‑tát dùng nhiều thân hiện khắp nơi thường giáo hóa chúng sanh, hiển thị Bồ‑tát dùng sức đại bi nhiếp tất cả tài sản thế gian mà chẳng nhàm, hiển thị tu đủ tất cả công hạnh biết rõ tất cả hạnh lìa các tướng, hiển thị Bồ‑tát thọ sanh khắp nơi vì biết rõ tất cả sanh đều vô tướng. Ngươi đến đó hỏi: Bồ‑tát thế nào thật hành Bồ‑tát hạnh, thế nào tu Bồ‑tát đạo, thế nào học Bồ‑tát giới, thế nào tịnh Bồ‑tát tâm, thế nào phát Bồ‑tát nguyện, thế nào chứa nhóm Bồ‑tát trợ đạo, thế nào nhập bậc Bồ‑tát, thế nào thành mãn Bồ‑tát Ba la mật, thế nào được Bồ‑tát vô sanh nhẫn, thế nào đủ Bồ‑tát công đức, thế nào thờ Bồ‑tát thiện tri thức? Nầy Thiện nam tử! Di Lặc Bồ‑tát thông đạt tất cả Bồ‑tát hạnh, biết rõ tâm chúng sanh, thường hiện thân trước họ để giáo hóa điều phục. Di Lặc Bồ‑tát đã viên mãn tất cả Ba la mật, đã ở tất cả bậc Bồ‑tát, đã chứng tất cả Bồ‑tát nhẫn, đã nhập tất cả Bồ‑tát vị, đã được Phật thọ ký, đã du tất cả cảnh Bồ‑tát, đã được thần lực của tất cả Phật, đã được đức Như Lai đem pháp thủy cam lộ nhất thiết trí quán đảnh. Nầy Thiện nam tử! Di Lặc Bồ‑tát có thể nhuận trạch thiện căn của ngươi, có thể tăng trưởng tâm bồ đề của ngươi, có thể kiên cố chí của ngươi, có thể thêm pháp lành cho ngươi, có thể lớn căn Bồ‑tát cho ngươi, có thể chỉ bày pháp vô ngại cho ngươi, có thể làm cho ngươi vào bậc Phổ hiền, có thể nói nguyện Bồ‑tát cho ngươi, có thể nói hạnh Phổ hiền cho ngươi, có thể vì ngươi mà nói tất cả Bồ‑tát hạnh nguyện làm thành công đức. Nầy Thiện nam tử! Ngươi chẳng nên tu một điều lành, chiếu một pháp, hành một hạnh, phát một nguyện, được một thọ ký, trụ một nhẫn mà cho là rốt ráo. Ngươi chớ nên đem tâm có hạn lượng mà thật hành lục độ, trụ nơi thập địa, tịnh phật độ, thờ thiện tri thức. Tại sao vậy? Nầy Thiện nam tử! Vì Bồ‑tát phải gieo vô lượng thiện căn, phải chứa vô lượng bồ đề cụ, phải tu vô lượng bồ đề nhơn, phải học vô lượng xảo hồi hướng, phải giáo hóa vô lượng chúng sanh giới, phải biết vô lượng chúng sanh tâm, phải biết vô lượng chúng sanh căn, phải rõ vô lượng chúng sanh giải, phải quán vô lượng chúng sanh hạnh, phải điều phục vô lượng chúng sanh, phải đoạn vô lượng phiền não, phải tịnh vô lượng nghiệp tập, phải diệt vô lượng tà kiến, phải trừ vô lượng tâm tạp nhiễm, phải phát vô lượng tâm thanh tịnh, phải nhổ vô lượng tên độc khổ, phải cạn vô lượng biển ái dục, phải phá vô lượng tối vô minh, phải xô vô lượng núi ngã mạn, phải bức đứt vô lượng dây sanh tử, phải qua khỏi vô lượng giòng hữu lậu, phải khô vô lượng biển thọ sanh, phải làm cho vô lượng chúng sanh ra khỏi bùn lầy ngũ dục, phải khiến vô lượng chúng sanh lìa ngục tù tam giới, phải đặt vô lượng chúng sanh ở trong thánh đạo, phải tiêu diệt vô lượng hạnh tham dục, phải trừ sạch vô lượng hạnh sân hận, phải phá trừ vô lượng hạnh ngu si, phải siêu vô lượng lưới ma, phải lìa vô lượng nghiệp ma, phải rửa sạch Bồ‑tát vô lượng dục lạc, phải tăng trưởng Bồ‑tát vô lượng phương tiện, phải xuất sanh Bồ‑tát vô lượng căn tăng thượng, phải sáng sạch Bồ‑tát vô lượng quyết định giải, phải xu nhập Bồ‑tát vô lượng bình đẳng, phải thanh tịnh Bồ‑tát vô lượng công đức, phải tu tập Bồ‑tát vô lượng công hạnh, phải thị hiện Bồ‑tát vô lượng hạnh tùy thuận thế gian, phải sanh vô lượng sức tịnh tín, phải trụ vô lượng sức tinh tấn, phải thanh tịnh vô lượng sức chánh niệm, phải thành mãn vô lượng sức Tam ma địa, phải khởi vô lượng sức tịnh huệ, phải kiên cố vô lượng sức thắng giải, phải tích tập vô lượng sức phước đức, phải lớn vô lượng sức trí huệ, phải phát khởi vô lượng sức Bồ‑tát, phải viên mãn vô lượng sức Như Lai, phải phân biệt vô lượng Pháp môn, phải rõ biết vô lượng Pháp môn, phải thanh tịnh vô lượng Pháp môn, phải sanh vô lượng pháp quang minh, phải làm vô lượng pháp chiếu diệu, phải chiếu vô lượng phẩm loại căn, phải biết vô lượng phiền não bịnh, phải chứa vô lượng diệu pháp dược, phải chữa vô lượng bịnh của chúng sanh, phải sắm sửa vô lượng đồ cúng cam lộ, phải đến vô lượng phật độ, phải cúng dường vô lượng Như Lai, phải vào vô lượng Bồ‑tát hội, phải thọ vô lượng phật giáo, phải nhẫn vô lượng tội chúng sanh, phải diệt vô lượng nạn ác đạo, phải khiến vô lượng chúng sanh sanh về thiện đạo, phải dùng pháp tứ nhiếp để nhiếp vô lượng chúng sanh, phải tu vô lượng môn tổng trì, phải sanh vô lượng môn đại nguyện, phải tu vô lượng sức đại từ đại nguyện, phải siêng cầu vô lượng phật pháp thường không thôi dứt, phải khởi vô lượng sức tư duy, phải khỏi vô lượng sự thần thông, phải tịnh vô lượng trí quang minh, phải qua đến vô lượng loài chúng sanh, phải thọ vô lượng đời trong các cõi, phải hiện vô lượng thân sai biệt, phải biết vô lượng pháp ngôn từ, phải nhập vô lượng tâm sai biệt, phải biết Bồ‑tát đại cảnh giới, phải trụ Bồ‑tát đại cung điện, phải quán Bồ‑tát thậm thâm diệu pháp, phải biết cảnh giới khó biết của Bồ‑tát, phải thật hành những hạnh khó làm của Bồ‑tát, phải đầy đủ oai đức tôn trọng của Bồ‑tát, phải đi theo chánh vị khó nhập của Bồ‑tát, phải biết những hạnh của Bồ‑tát, phải hiện thần lực phổ biến của Bồ‑tát, phải thọ pháp vân bình đẳng của Bồ‑tát, phải làm rộng vô biên hạnh của Bồ‑tát, phải viên mãn vô biên Ba la mật của Bồ‑tát, phải thọ vô lượng ký biệt của Bồ‑tát, phải nhập vô lượng nhẫn môn của Bồ‑tát, phải tu vô lượng địa vị của Bồ‑tát, phải thanh tịnh vô lượng Pháp môn của Bồ‑tát, phải đồng với chư Bồ‑tát, trụ vô biên kiếp cúng dường vô lượng Phật, nghiêm tịnh bất khả thuyết Phật độ, xuất sanh bất khả thuyết Bồ‑tát nguyện. Nầy Thiện nam tử! Tóm lại, phải khắp tu Bồ‑tát hạnh, phải khắp giáo hóa chúng sanh giới, phải khắp vào tất cả kiếp, phải khắp sanh tất cả xứ, phải khắp biết tất cả thế, phải khắp thật hành tất cả pháp, phải khắp tịnh tất cả cõi, phải khắp mãn tất cả nguyện, phải khắp cúng tất cả Phật, phải khắp đồng tất cả Bồ‑tát nguyện, phải khắp thờ tất cả thiện tri thức. Nầy Thiện nam tử! Ngươi cầu thiện tri thức chẳng nên nhàm mỏi. Ngươi thỉnh hỏi thiện trí thức chớ sợ khổ nhọc. Ngươi gần gũi thiện tri thức chớ có thối chuyển. Ngươi cúng dường thiện tri thức chớ có thôi nghỉ. Ngươi lãnh thọ lời dạy của thiện tri thức chớ có lầm lộn. Ngươi học hạnh của thiện tri thức chớ có nghi hoặc. Ngươi nghe thiện tri thức diễn nói môn xuất ly chẳng nên dụ dự. Thấy thiện tri thức tùy phiền não hành chớ có hiềm lạ. Ở chỗ thiện tri thức phải sanh lòng thâm tín tôn kính chẳng nên biến đổi. Tại sao vậy? Nầy Thiện nam tử! Vì Bồ‑tát do nơi thiện tri thức mà được nghe tất cả Bồ‑tát hạnh, thành tựu tất cả Bồ‑tát công đức, xuất sanh tất cả Bồ‑tát đại nguyện, dẫn phát tất cả Bồ‑tát thiện căn, tích tập tất cả Bồ‑tát trợ đạo, khai phát tất cả Bồ‑tát pháp quang minh, hiển thị tất cả Bồ‑tát xuất ly môn, tu học tất cả Bồ‑tát thanh tịnh giới, an trụ tất cả Bồ‑tát công đức pháp, thanh tịnh tất cả Bồ‑tát quảng đại chí, tăng trưởng tất cả Bồ‑tát kiên cố tâm, đầy đủ tất cả Bồ‑tát Đà la ni biện tài môn, được tất cả Bồ‑tát thanh tịnh tạng, sanh tất cả Bồ‑tát định quang minh, được tất cả Bồ‑tát thù thắng nguyện, cùng tất cả Bồ‑tát đồng một nguyện, nghe tất cả Bồ‑tát thù thắng pháp, được tất cả Bồ‑tát bí mật xứ, đến tất cả Bồ‑tát pháp bửu sở, thêm tất cả Bồ‑tát mầm thiện căn, lớn tất cả Bồ‑tát thân trí huệ, hộ tất cả Bồ‑tát tạng thâm mật, trì tất cả Bồ‑tát phước đức tụ, tịnh tất cả Bồ‑tát thọ sanh đạo, thọ tất cả Bồ‑tát Chánh pháp vân, nhập tất cả Bồ‑tát đại nguyện lộ, đến tất cả như lai bồ đề quả, nhiếp thủ tất cả Bồ‑tát diệu hạnh, khai thị tất cả Bồ‑tát công đức, qua tất cả phương thính thọ diệu pháp, khen tất cả Bồ‑tát oai đức quảng đại, sanh tất cả Bồ‑tát đại từ bi lực, nhiếp tất cả Bồ‑tát thắng tự tại lực, sanh tất cả Bồ‑tát bồ đề phần, làm tất cả Bồ‑tát lợi ích sự. Nầy Thiện nam tử! Bồ‑tát do thiện tri thức nhiệm trì nên chẳng đọa ác đạo, do thiện tri thức nhiếp thọ mà chẳng thối đại thừa, do thiện tri thức hộ niệm mà chẳng phạm Bồ‑tát giới, do thiện tri thức thủ hộ mà chẳng theo ác tri thức, do thiện tri thức dưỡng dục mà chẳng khuyết Bồ‑tát pháp, do thiện tri thức nhiếp thủ mà siêu việt hạng phàm phu, do thiện tri thức giáo hối mà siêu việt bực nhị thừa, do thiện tri thức dìu dắt mà được ra khỏi thế gian, do thiện tri thức trưởng dưỡng mà có thể chẳng nhiễm thế pháp, do kính thờ thiện tri thức mà tu tất cả Bồ‑tát hạnh, do cúng dường thiện tri thức mà đủ tất cả pháp trợ đạo, do thân cận thiện tri thức mà chẳng bị nghiệp hoặc nhiếp phục, do nương dựa thiện tri thức mà thế lực kiên cố chẳng sợ ma chúng, do y chỉ thiện tri thức mà tăng trưởng tất cả pháp bồ đề phần. Tại sao vậy? Nầy Thiện nam tử! Vì thiện tri thức có thể trừ sạch các điều chướng ngại, có thể diệt các tội, có thể dứt các nạn, có thể ngăn các ác, có thể phá đêm dài tối tăm vô minh, có thể làm sập đổ lao ngục kiên cố Kiến chấp, có thể thoát khỏi thành sanh tử, có thể bỏ nhà thế tục, có thể cắt lưới ma, có thể nhổ tên khổ, có thể lìa chỗ hiểm nạn vô trí, có thể ra khỏi đồng hoang rộng lớn tà kiến, có thể qua khỏi dòng hữu lậu, có thể lìa những tà đạo, có thể chỉ đường bồ đề, có thể dạy pháp Bồ‑tát, có thể khiến an trụ Bồ‑tát hạnh, có thể khiến xu hướng nhất thiết trí, có thể tịnh mắt trí huệ, có thể lớn tâm bồ đề, có thể sanh đại bi, có thể diễn diệu hạnh, có thể nói Ba la mật, có thể tẩn ác tri thức, có thể khiến trụ các bậc, có thể khiến được các nhẫn, có thể khiến tu tập các thiện căn, có thể khiến thành xong tất cả đạo cụ, có thể thí cho tất cả công đức lớn, có thể khiến đến ngôi nhất thiết chủng trí, có thể khiến hoan hỉ nhóm công đức, có thể khiến hớn hở tu các công hạnh, có thể khiến xu nhập nghĩa thậm thâm, có thể khiến khai thị môn xuất ly, có thể khiến trừ tuyệt các ác đạo, có thể dùng pháp quang chiếu diệu, có thể dùng pháp vũ nhuận trạch, có thể khiến tiêu diệt tất cả phiền não, có thể khiến bỏ lìa tất cả Kiến chấp, có thể khiến tăng trưởng tất cả phật trí huệ, có thể khiến an trụ tất cả phật Pháp môn. Nầy Thiện nam tử! Thiện tri thức như từ mẫu, vì xuất sanh phật chủng. Như từ phụ, vì lợi ích rộng lớn. Như nhũ mẫu vì thủ hộ chẳng cho làm ác. Như giáo sư, vì dạy sở học của Bồ‑tát. Như đạo sư, vì hay chỉ đường Ba la mật. Như lương y, vì hay chữa bịnh phiền não. Như Tuyết Sơn, vì tăng trưởng thuốc nhất thiết trí. Như dũng tướng, vì dẹp trừ tất cả sự bố úy. Như người đưa đò, vì làm cho ra khỏi dòng sanh tử. Như lái thuyền, vì khiến đến bửu sở trí huệ. Nầy Thiện nam tử! Thường phải chánh niệm suy nghĩ thiện tri thức là như vậy. Lại nầy Thiện nam tử! Ngươi kính thờ tất cả thiện tri thức phải phát tâm như đại địa, vì gánh vác trọng nhiệm không mỏi nhọc. Phải phát tâm như kim cang vì chí nguyện kiên cố chẳng hư hoại, phải phát tâm như núi Thiết vi vì tất cả các sự khổ không lay động. Phải phát tâm như người hầu hạ, vì đều tùy thuận theo lời dạy. Phải phát tâm như đệ tử, vì không chống trái lời dạy bảo. Phải phát tâm như tôi tớ, vì tất cả lao vụ không nhàm. Phải phát tâm như dưỡng mẫu, vì chịu những sự cần khổ không biết nhọc. Phải phát tâm như người làm thuê, vì không trái chỗ sai bảo. Phải phát tâm như người hốt phân, vì lìa kiêu mạn. Phải phát tâm như cây lúa đã chín, vì có thể hạ thấp. Phải phát tâm như lương mã, vì lìa ác tánh. Phải phát tâm như xe lớn, vì có thể chở nặng. Phải phát tâm như voi điều thuận, vì hằng phục tùng. Phải phát tâm như núi Tu Di, vì chẳng khuynh động. Phải phát tâm như lương khuyển, vì chẳng phản hại chủ. Phải phát tâm như chiên đà la, vì lìa kiêu mạn. Phải phát tâm như kiện ngưu, vì không hung giận. Phải phát tâm như ghe thuyền, vì qua lại chẳng mỏi. Phải phát tâm như cầu đò, vì tế độ không biết nhọc. Phải phát tâm như hiếu tử, vì thừ thuận nhan sắc. Phải phát tâm như vương tử, vì tuân hành giáo mạng. Lại nầy Thiện nam tử! Với tự thân, ngươi phải tưởng là bịnh khổ. Với thiện tri thức, ngươi phải tưởng là y vương. Với pháp của thiện tri thức dạy, ngươi phải tưởng là lương dược. Với chỗ tu hành, tưởng trừ được bịnh. Lại phải ở nơi tự thân, tưởng là đi xa. Nơi thiện tri thức, tưởng là đạo sư. Nơi pháp của thiện tri thức dạy, tưởng là con đường chánh. Nơi chỗ tu hành, tưởng là đến được xa. Lại phải ở nơi tự thân, tưởng cầu được độ. Nơi thiện tri thức, tưởng là người lái thuyền. Nơi pháp của thiện tri thức dạy, tưởng là thuyền, là chèo. Nơi chỗ tu hành, tưởng là đến bờ kia. Lại phải ở nơi tự thân, tưởng là lúa mạ. Nơi thiện tri thức tưởng là Long Vương. Nơi pháp của thiện tri thức dạy, tưởng là mưa đúng thời tiết. Nơi chỗ tu hành tưởng là có thể thành thục. Lại phải ở nơi tự thân, tưởng là nghèo cùng. Nơi thiện tri thức tưởng là Tỳ Sa Môn Thiên Vương. Nơi pháp của thiện tri thức dạy, tưởng là của cải châu báu. Nơi chỗ tu hành, tưởng là giàu có. Lại phải ở nơi tự thân, tưởng là đệ tử. Nơi thiện tri thức, tưởng là thợ khéo. Nơi pháp của thiện tri thức dạy, tưởng là nghề khéo. Nơi chỗ tu hành, tưởng là biết rõ. Lại phải ở nơi tự thân, tưởng là chỗ đáng sợ hãi. Nơi thiện tri thức, tưởng là người dũng kiện. Nơi pháp của thiện tri thức dạy, tưởng là dao gậy. Nơi chỗ tu hành, tưởng là dẹp trừ được kẻ oán địch. Lại phải ở nơi tự thân, tưởng là người đi buôn. Nơi thiện tri thức, tưởng là đạo sư. Nơi pháp của thiện tri thức dạy, tưởng là trân bửu. Nơi chỗ tu hành, tưởng là lượm châu báu. Lại phải ở nơi tự thân, tưởng là con cái. Nơi thiện tri thức, tưởng là cha mẹ. Nơi pháp của thiện tri thức dạy, tưởng là gia nghiệp. Nơi chỗ tu hành, tưởng là nối nghiệp nhà. Lại phải ở nơi tự thân, tưởng là vương tử. Nơi thiện tri thức, tưởng là đại thần. Nơi pháp của thiện tri thức dạy, tưởng là lịnh của vua. Nơi chỗ tu hành, tưởng là đội mão vua, mặc áo vua, cột đai vua, ngồi điện vua. Nầy Thiện nam tử! Ngươi phải phát tâm như vậy, suy nghĩ như vậy để gần thiện tri thức. Tại sao vậy? Vì có tâm như vậy để gần thiện tri thức thời chí nguyện trọn được thanh tịnh. Lại nầy Thiện nam tử! Thiện tri thức làm lớn các thiện căn, như núi Tuyết sanh lớn các dược thảo. Thiện tri thức là pháp khí của Phật, như đại hải nhận thọ các dòng nước. Thiện tri thức là chỗ công đức, như đại hải xuất sanh các châu báu. Thiện tri thức thanh tịnh tâm bồ đề, như lửa hừng luyện chơn kim. Thiện tri thức vượt hơn thế pháp như núi Tu Di vọt lên mặt đại hải. Thiện tri thức chẳng nhiễm thế pháp, như hoa sen chẳng dính nước. Thiện tri thức chẳng thọ các điều ác, như đại hải chẳng chứa tử thi. Thiện tri thức tăng trưởng pháp lành, như trăng tròn quang sắc viên mãn. Thiện tri thức soi sáng Pháp giới, như mặt nhựt chiếu khắp thế gian. Thiện tri thức làm lớn thân Bồ‑tát, như cha mẹ nuôi nấng con cái. Nầy Thiện nam tử! Tóm lại, Bồ‑tát nếu có thể tùy thuận lời dạy của thiện tri thức, thời được mười bất khả thuyết trăm ngàn ức na do tha công đức, thời thanh tịnh mười bất khả thuyết trăm ngàn ức na do tha thâm tâm, thời lớn mười bất khả thuyết trăm ngàn ức na no tha Bồ‑tát căn, thời thành mười bất khả thuyết trăm ngàn ức na do tha Bồ‑tát lực, thời dứt mười bất khả thuyết trăm ngàn ức a tăng kỳ chướng, thời siêu mười bất khả thuyết trăm ngàn ức a tăng kỳ ma cảnh, thời nhập mười bất khả thuyết trăm ngàn ức a tăng kỳ Pháp môn, thời mãn mười bất khả thuyết trăm ngàn ức a tăng kỳ trợ đạo, thời tu mười bất khả thuyết trăm ngàn ức a tăng kỳ diệu hạnh, thời phát mười bất khả thuyết trăm ngàn ức a tăng kỳ đại nguyện. Nầy Thiện nam tử! Ta lại lược nói Bồ‑tát hạnh, tất cả Bồ‑tát Ba la mật, tất cả Bồ‑tát địa, tất cả Bồ‑tát nhẫn, tất cả Bồ‑tát tổng trì môn, tất cả Bồ‑tát Tam ma địa môn, tất cả Bồ‑tát thần thông trí, tất cả Bồ‑tát hồi hướng, tất cả Bồ‑tát nguyện, tất cả Bồ‑tát thành tựu Phật pháp, đều do sức của thiện tri thức. Đều dùng thiện tri thức làm căn bổn. Đều nương thiện tri thức mà sanh. Đều nương thiện tri thức mà ra. Đều nương thiện tri thức mà lớn. Đều nương thiện tri thức mà trụ. Đều do thiện tri thức làm nhân duyên. Đều do thiện tri thức hay phát khởi. Bấy giờ Thiện Tài Đồng Tử nghe thiện tri thức có công đức như vậy, có thể khai thị vô lượng diệu hạnh Bồ‑tát, có thể thành tựu phật pháp quảng đại, nên vui mừng hớn hở đảnh lễ Đức Sanh và Hữu Đức, hữu nhiễu vô số vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ đi qua phương nam.