Kinh Đại Bát Nhã - Tập 04 · HT Thích Trí Nghiêm

QUYỂN 181A

Lại nữa, bạch Thế Tôn! Vì Dự‑lưu hướng, Dự‑lưu quả vô sanh nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô sanh; Nhất‑lai hướng, Nhất‑lai quả, Bất‑hoàn hướng, Bất‑hoàn quả, A‑la‑hán hướng, A‑la‑hán quả vô sanh nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô sanh; vì Dự‑lưu hướng, Dự‑lưu quả vô diệt nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô diệt; Nhất‑lai hướng cho đến A‑la‑hán quả vô diệt nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô diệt; vì Dự‑lưu hướng, Dự‑lưu quả vô tự tánh nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô tự tánh; Nhất‑lai hướng cho đến A‑la‑hán quả vô tự tánh nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô tự tánh; vì Dự‑lưu hướng, Dự‑lưu quả vô sở hữu nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô sở hữu; Nhất‑lai hướng cho đến A‑la‑hán quả vô sở hữu nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô sở hữu; Dự‑lưu hướng, Dự‑lưu quả là không, nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng là không; Nhất‑lai hướng cho đến A‑la‑hán quả là không nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng là không; vì Dự‑lưu hướng, Dự‑lưu quả vô tướng nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô tướng; Nhất‑lai hướng cho đến A‑la‑hán quả vô tướng nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô tướng; vì Dự‑lưu hướng, Dự‑lưu quả vô nguyện nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô nguyện; Nhất‑lai hướng cho đến A‑la‑hán quả vô nguyện nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô nguyện; vì Dự‑lưu hướng, Dự‑lưu quả viễn ly nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng viễn ly; Nhất‑lai hướng cho đến A‑la‑hán quả viễn ly nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng viễn ly; vì Dự‑lưu hướng, Dự‑lưu quả tịch tịnh nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng tịch tịnh; Nhất‑lai hướng cho đến A‑la‑hán quả tịch tịnh nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng tịch tịnh; vì Dự‑lưu hướng, Dự‑lưu quả bất khả đắc nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng bất khả đắc; Nhất‑lai hướng cho đến A‑la‑hán quả bất khả đắc nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng bất khả đắc; vì Dự‑lưu hướng, Dự‑lưu quả bất khả tư nghì nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng bất khả tư nghì; Nhất‑lai hướng cho đến A‑la‑hán quả bất khả tư nghì nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng bất khả tư nghì; vì Dự‑lưu hướng, Dự‑lưu quả vô tri giác nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô tri giác; Nhất‑lai hướng cho đến A‑la‑hán quả vô tri giác nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô tri giác; vì thế lực của Dự‑lưu hướng, quả Dự‑lưu chẳng thành tựu nên biết thế lực của Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng chẳng thành tựu; thế lực của Nhất‑lai hướng cho đến A‑la‑hán quả chẳng thành tựu nên biết thế lực của Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng chẳng thành tựu.

Bạch Thế Tôn! Con nương vào ý này mà nói Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa của đại Bồ‑tát là đại Ba‑la‑mật‑đa.

Lại nữa, bạch Thế Tôn! Vì Độc‑giác vô sanh nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô sanh; quả vị Độc‑giác vô sanh nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô sanh; vì Độc‑giác vô diệt nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô diệt; quả vị Độc‑giác vô diệt nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô diệt; vì Độc‑giác vô tự tánh nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô tự tánh; quả vị Độc‑giác vô tự tánh nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô tự tánh; vì Độc‑giác vô sở hữu nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô sở hữu; quả vị Độc‑giác vô sở hữu nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô sở hữu; vì Độc‑giác là không nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng là không; quả vị Độc‑giác là không nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng là không; vì Độc‑giác vô tướng nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô tướng; quả vị Độc‑giác vô tướng nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô tướng; vì Độc‑giác vô nguyện nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô nguyện; quả vị Độc‑giác vô nguyện nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô nguyện; vì Độc‑giác viễn ly nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng viễn ly; quả vị Độc‑giác viễn ly nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng viễn ly; vì Độc‑giác tịch tịnh nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng tịch tịnh; quả vị Độc‑giác tịch tịnh nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng tịch tịnh; vì Độc‑giác bất khả đắc nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng bất khả đắc; quả vị Độc‑giác bất khả đắc nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng bất khả đắc; vì Độc‑giác bất khả tư nghì nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng bất khả tư nghì; quả vị Độc‑giác bất khả tư nghì nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng bất khả tư nghì; vì Độc‑giác vô tri giác nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô tri giác; quả vị Độc‑giác vô tri giác nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô tri giác; vì thế lực của Độc‑giác chẳng thành tựu nên biết thế lực của Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng chẳng thành tựu; thế lực của quả vị Độc‑giác chẳng thành tựu nên biết thế lực của Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng chẳng thành tựu.

Bạch Thế Tôn! Con nương vào ý này mà nói Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa của đại Bồ‑tát là đại Ba‑la‑mật‑đa.

Lại nữa, bạch Thế Tôn! Vì đại Bồ‑tát vô sanh nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô sanh; hạnh đại Bồ‑tát vô sanh nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô sanh; vì đại Bồ‑tát vô diệt nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô diệt; hạnh đại Bồ‑tát vô diệt nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô diệt; vì đại Bồ‑tát vô tự tánh nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô tự tánh; hạnh đại Bồ‑tát vô tự tánh nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô tự tánh; vì đại Bồ‑tát vô sở hữu nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô sở hữu; hạnh đại Bồ‑tát vô sở hữu nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô sở hữu; vì Đại Bồ‑tát là không nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng là không; hạnh đại Bồ‑tát là không nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng là không; vì đại Bồ‑tát vô tướng nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô tướng; hạnh đại Bồ‑tát vô tướng nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô tướng; vì đại Bồ‑tát vô nguyện nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô nguyện; hạnh đại Bồ‑tát vô nguyện nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô nguyện; vì đại Bồ‑tát viễn ly nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng viễn ly; hạnh đại Bồ‑tát viễn ly nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng viễn ly; vì đại Bồ‑tát tịch tịnh nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng tịch tịnh; hạnh đại Bồ‑tát tịch tịnh nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng tịch tịnh; vì đại Bồ‑tát bất khả đắc nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng bất khả đắc; hạnh đại Bồ‑tát bất khả đắc nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng bất khả đắc; vì đại Bồ‑tát bất khả tư nghì nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng bất khả tư nghì; hạnh đại Bồ‑tát bất khả tư nghì nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng bất khả tư nghì; vì đại Bồ‑tát vô tri giác nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô tri giác; hạnh đại Bồ‑tát vô tri giác nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô tri giác; vì thế lực của đại Bồ‑tát chẳng thành tựu nên biết thế lực của Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng chẳng thành tựu; thế lực của hạnh đại Bồ‑tát chẳng thành tựu nên biết thế lực của Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng chẳng thành tựu.

Bạch Thế Tôn! Con nương vào ý này mà nói Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa của đại Bồ‑tát là đại Ba‑la‑mật‑đa.

Lại nữa, bạch Thế Tôn! Vì Như Lai Ứng Chánh đẳng Giác vô sanh nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô sanh; quả vị giác ngộ cao tột vô sanh nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô sanh; vì Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác vô diệt nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô diệt; quả vị giác ngộ cao tột vô diệt nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô diệt; vì Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác vô tự tánh nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô tự tánh; quả vị giác ngộ cao tột vô tự tánh nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô tự tánh; vì Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác vô sở hữu nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô sở hữu; quả vị giác ngộ cao tột vô sở hữu nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô sở hữu; vì Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác là không nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng không; quả vị giác ngộ cao tột là không nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng không; vì Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác vô tướng nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô tướng; quả vị giác ngộ cao tột vô tướng nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô tướng; vì Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác vô nguyện nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô nguyện; quả vị giác ngộ cao tột vô nguyện nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô nguyện; vì Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác viễn ly nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng viễn ly; quả vị giác ngộ cao tột viễn ly nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng viễn ly; vì Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác tịch tịnh; nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng tịch tịnh; quả vị giác ngộ cao tột tịch tịnh nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng tịch tịnh; vì Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác bất khả đắc nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng bất khả đắc; quả vị giác ngộ cao tột bất khả đắc nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng bất khả đắc; vì Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác bất khả tư nghì nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng bất khả tư nghì; quả vị giác ngộ cao tột bất khả tư nghì nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng bất khả tư nghì; vì Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác vô tri giác nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô tri giác; quả vị giác ngộ cao tột vô tri giác nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô tri giác; vì thế lực của Như Lai Ứng Chánh đẳng giác chẳng thành tựu nên biết thế lực của Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng chẳng thành tựu; thế lực của quả vị giác ngộ cao tột chẳng thành tựu nên biết thế lực của Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng chẳng thành tựu.

Bạch Thế Tôn! Con nương vào ý này mà nói Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa của đại Bồ‑tát là đại Ba‑la‑mật‑đa.

Lại nữa, bạch Thế Tôn! Vì tất cả pháp vô sanh nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô sanh; vì tất cả pháp vô diệt nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô diệt; vì tất cả pháp vô tự tánh nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô tự tánh; vì tất cả pháp vô sở hữu nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô sở hữu; tất cả pháp là không nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng không; vì tất cả pháp vô tướng nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô tướng; vì tất cả pháp vô nguyện nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô nguyện; vì tất cả pháp viễn ly nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng viễn ly; vì tất cả pháp tịch tịnh nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng tịch tịnh; vì tất cả pháp bất khả đắc nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng bất khả đắc; vì tất cả pháp bất khả tư nghì nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng bất khả tư nghì; vì tất cả pháp vô tri giác nên biết Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng vô tri giác; vì thế lực của tất cả pháp chẳng thành tựu nên biết thế lực của Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa cũng chẳng thành tựu.

Bạch Thế Tôn! Con nương vào ý này mà nói Bát‑nhã‑ba‑la‑mật‑đa của đại Bồ‑tát là đại Ba‑la‑mật‑đa.