Đại lão Hòa thượng Thích Trí Tịnh
1917 - 2014 · Chùa Vạn Đức, quận Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh
Đại lão Hòa thượng Thích Trí Tịnh, thế danh là Nguyễn Văn Bình, pháp hiệu Thích Trí Tịnh.
Hòa thượng sinh năm 1917 (Đinh Tỵ) tại làng Mỹ Luông, quận Cái Tàu Thượng, tỉnh Sa Đéc (nay là huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp).
Năm 1937 xuất gia với Hòa thượng Thích Hồng Xứng tại chùa Vạn Linh, quận Tịnh Biên, tỉnh Châu Đốc (nay là huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang), được ban pháp húy Nhật Bình, hiệu Thiện Chánh, thuộc đời 41 dòng Thiền Lâm Tế Gia Phổ.
Năm 1940 ra Huế học Trung đẳng Phật học tại Phật học đường Tây Thiên, Cao đẳng Phật học tại Phật học đường Báo Quốc.
Năm 1941, đăng đàn thọ giới Sa di tại chùa Quốc Ân và được Hòa thượng Thích Trí Độ đặt cho pháp hiệu Trí Tịnh.
Năm 1945 trở về Nam, thành lập Phật học đường Phật Quang tại quận Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ, Hòa thượng Thích Thiện Hoa làm Giám đốc và Hòa thượng làm Đốc giáo kiêm Giáo thọ sư.
Năm 1946, đăng đàn thọ giới Cụ túc và Bồ tát giới tại chùa Long An - Sa Đéc.
Năm 1948, thành lập Phật học đường Liên Hải tại chùa Vạn Phước, xã Bình Trị Đông, quận Long Hưng Thượng, tỉnh Chợ Lớn (nay là huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh) và làm Giám đốc.
Năm 1950, nhập thất tịnh tu tại chùa Linh Sơn - Vũng Tàu.
Năm 1951, cùng Hòa thượng Thích Thiện Hoa sáp nhập ba Phật học đường Liên Hải, Mai Sơn, Sùng Đức thành Phật học đường Nam Việt tại chùa Ấn Quang, quận 10, tỉnh Chợ Lớn (nay là quận 10, thành phố Hồ Chí Minh).
Năm 1953, khởi công xây dựng chùa Vạn Đức - Thủ Đức.
Năm 1955, thành lập Hội Cực Lạc liên hữu tại chùa Vạn Đức, quận Thủ Đức; đảm nhiệm cương vị Giáo thọ A Xà Lê Đại giới đàn Từ Hiếu - Huế.
Năm 1957, đảm nhiệm cương vị Trị sự phó kiêm Trưởng ban Giáo dục Giáo hội Tăng già Nam Việt và tổ chức các khóa Như Lai sứ giả tại chùa Pháp Hội, chùa Tuyền Lâm - Chợ Lớn, chùa Dược Sư - Gia Định để đào tạo trụ trì và cán bộ cho Giáo hội.
Năm 1959, tại Đại hội kỳ II (ngày 10, 11-9-1959) tại chùa Ấn Quang, được suy cử vào cương vị Trị sự phó Giáo hội Tăng già toàn quốc Việt Nam; làm Tuyên Luật sư Đại giới đàn Hải Đức - Nha Trang.
Từ năm 1960 - 1962, đảm nhiệm cương vị giới sư trong các Đại giới đàn tổ chức tại chùa Ấn Quang, chùa Pháp Hội - Chợ Lớn.
Năm 1962, được Giáo hội Phật giáo Trung phần cung thỉnh vào cương vị Phó Viện trưởng Phật học Viện Trung phần Hải Đức - Nha Trang.
Năm 1964, làm Trưởng đoàn đại biểu Giáo hội Tăng già Nam Việt tham dự Đại hội thống nhất Phật giáo Việt Nam tổ chức tại chùa Xá Lợi để thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất và Hòa thượng được Đại hội suy cử vào cương vị Tổng vụ trưởng Tổng vụ Tăng sự.
Năm 1966 - 1968, Đại hội kỳ II Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, Hòa thượng được suy cử vào cương vị Chánh Thư ký Viện Tăng Thống.
Từ năm 1974 - 1980, Hòa thượng đảm nhiệm cương vị Phó Viện trưởng Viện Hóa đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất.
Năm 1980, Hòa thượng đảm nhiệm cương vị Phó Trưởng ban Ban vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam để thành lập nên Giáo hội Phật giáo Việt Nam, ngôi nhà chung của Phật giáo Việt Nam.
Từ ngày 4-11 - 7-11-1981, tại Hội nghị Đại biểu thống nhất Phật giáo toàn quốc, Hòa thượng được suy tôn vào cương vị Thành viên Hội đồng Chứng minh, suy cử vào cương vị Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Trị sự, Trưởng Ban Tăng sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Từ năm 1982 - 1987, đảm nhiệm cương vị Trưởng Ban Trị sự Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh.
Từ năm 1984 đến nay, đảm nhiệm cương vị Chủ tịch Hội đồng Trị sự, Trưởng Ban Tăng sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Năm 1984 - 2001, đảm nhiệm cương vị Hòa thượng đường đầu các Đại giới đàn do Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức tại chùa Ấn Quang.
Năm 1984, tại Đại hội lần thứ 4 Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh, Hòa thượng được tín nhiệm bầu vào cương vị Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh; tại Đại hội lần thứ 3, Hòa thượng được tín nhiệm bầu vào cương vị Ủy viên đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Năm 1994, Hòa thượng được Đại hội lần thứ 8 Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tín nhiệm bầu vào cương vị Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Năm 2004, đảm nhiệm cương vị Đường đầu Hòa thượng Đại giới đàn Trí Tấn do Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bình Dương tổ chức.
Năm 2005, đảm nhiệm cương vị Đường đầu Hòa thượng Đại giới đàn Thiện Hòa 4 do Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tổ chức.
Mặc dù bận rộn nhiều công việc cho Giáo hội, nhưng Hòa thượng đã phiên dịch và biên soạn được 15 bộ sách phục vụ cho việc giảng dạy, tu học của tăng, ni, phật tử, như: Kinh Pháp Hoa, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Đại Bát Niết Bàn, Kinh Đại Bát Nhã, Kinh Đại Bảo Tích + Đại Tập, Kinh Phổ Hiền hạnh nguyện, Kinh Địa Tạng bổn nguyện, Kinh Tam Bảo, Tỳ kheo giới bổn, Bồ tát giới bổn, Kinh Pháp hoa cương yếu, Kinh Pháp hoa thông nghĩa, Cực lạc liên hữu tập, Đường về cực lạc, Ngộ Tánh luận.
Năm 1995, phục hồi và đại trùng tu chùa Vạn Linh và tháp Tổ Hồng Xứng tại Núi Cấm, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
Năm 2001, trùng tu Giảng đường, Phật đài Quan Âm lộ thiên, Thư viện, Thiền thất, phòng đọc sách chùa Vạn Đức.
Năm 2002, chủ đầu tư xây dựng lại cơ sở Văn phòng 2 Trung ương Giáo hội - Thiền viện Quảng Đức.
Năm 2004, xây dựng mới lại Chánh điện, Tổ đường chùa Vạn Đức.
Với uy tín, đạo hạnh của mình, Hòa thượng được tín nhiệm bầu làm Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh.
Dù ở cương vị nào, Ngài luôn nhận được tình cảm kính trọng đặc biệt của tăng, ni, phật tử Phật giáo Việt Nam ở trong và ngoài nước, cũng như cộng đồng xã hội. Ngài là tấm gương sáng tốt đạo đẹp đời của hôm nay và mai sau. Ghi nhận những công lao đóng góp to lớn cho Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội của Hòa thượng, Đảng và Nhà nước đã trao tặng Ngài nhiều phần thưởng cao quý.
9 giờ 15 phút sáng 28-3-2014, Hòa thượng đã nhẹ nhàng xả báo thân tại chùa Vạn Đức, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Trụ thế 98 năm và Hạ lạp 69 năm.
Cuộc đời của Hòa thượng là một tấm gương sáng về trí đức và giáo dục cho tăng, ni nhiều thế hệ. Với tính điềm đạm và đức nhẫn nại của một bậc thực học, chân tu khả kính và với những đóng góp to lớn cho Đạo pháp - Dân tộc, Hòa thượng luôn có được cảm tình đặc biệt trong lòng Phật tử Việt Nam.
Tác phẩm tiêu biểu
- Kinh Pháp Hoa
- Kinh Hoa Nghiêm
- Kinh Đại Bát Niết Bàn
- Kinh Đại Bát Nhã
- Kinh Đại Bảo Tích + Đại Tập
- Kinh Phổ Hiền hạnh nguyện
- Kinh Địa Tạng bổn nguyện
- Kinh Tam Bảo
- Tỳ kheo giới bổn
- Bồ tát giới bổn
- Kinh Pháp hoa cương yếu
- Kinh Pháp hoa thông nghĩa
- Cực lạc liên hữu tập
- Đường về cực lạc
- Ngộ Tánh luận