Tổ đình Phước Lâm
Thiền phái Lâm Tế · Đà Nẵng
Thôn 2 (Cẩm Hà cũ), phường Hội An Tây, thành phố Đà Nẵng
Khai sơn giữa thế kỷ XVIII bởi Thiền sư Thiệt Dinh – Ân Triêm; di tích cấp quốc gia
Tổ đình Phước Lâm nằm trên gò đất cao ở phía bắc phố cổ Hội An, do Thiền sư Thiệt Dinh – Chánh Hiển – Ân Triêm, đời thứ 35 Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh, khai sơn vào giữa thế kỷ XVIII. Tên chùa nghĩa là rừng phước. Chùa gắn liền với Tổ sư Minh Giác, vị trụ trì đời thứ ba đã cho dựng lại toàn bộ ngôi chùa. Chùa đã được xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia.
- Chốn tổ đời thứ 35 Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh, do Tổ sư Thiệt Dinh – Ân Triêm khai sơn
- Nơi lưu danh Tổ Minh Giác, vị trụ trì đời thứ ba đã dựng lại toàn bộ ngôi chùa
- Bố cục chữ khẩu: tiền điện – hậu tổ nối nhau bằng hai dãy đông lang, tây lang khép sân trong
- Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia
Sử tích
Giữa thế kỷ XVIII, Thiền sư Thiệt Dinh, tự Chánh Hiển, hiệu Ân Triêm, đời thứ 35 của Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh, chọn một gò đất cao ráo ở ngoại vi Hội An dựng thảo am tu thiền. Am mang tên Phước Lâm Tự, nghĩa là rừng phước không cùng.
Lúc đầu chùa là một thảo am nhỏ để tu thiền; đến đời thứ ba, Hòa thượng **Minh Giác** người Quảng Ngãi cho xây dựng lại toàn bộ ngôi chùa. Năm Mậu Ngọ (1798) Phật tử chùa Di Đà mời ngài làm trụ trì và mở đại giới đàn; sau đó ngài trở về Phước Lâm, nơi đã sống thời trẻ, và tu bổ chùa ngày càng trang nghiêm. Dân gian còn truyền rằng ngài từng là võ tướng, rồi phát nguyện quét chợ Hội An nhiều năm để sám hối; câu chuyện này chưa thấy văn bản đương thời xác nhận.
Ngôi chùa hiện nay giữ bố cục chữ khẩu quen thuộc của chùa Quảng: tiền điện và hậu tổ đặt trên một trục, hai dãy đông lang và tây lang nối dài hai bên khép lại thành sân trong. Chùa đã được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia.