Chùa Vĩnh Tràng
Bắc tông · Đồng Tháp
Đường Nguyễn Trung Trực, ấp Mỹ An, phường Mỹ Phong, tỉnh Đồng Tháp
Khởi đầu là am nhỏ do ông bà Bùi Công Đạt dựng đầu thế kỷ 19; thành đại tự năm 1849, trùng kiến theo lối Á – Âu năm 1907
Chùa Vĩnh Tràng tọa lạc trên đường Nguyễn Trung Trực, ấp Mỹ An, phường Mỹ Phong, tỉnh Đồng Tháp — vùng Mỹ Tho cũ. Chùa được xây cất bởi nhiều thế hệ trong nhiều năm nên mang một lối kiến trúc tổng hợp hiếm thấy: mặt tiền và hai cổng tam quan phảng phất La Mã, Pháp, Thái, Miên, Chàm, nhưng bên trong chánh điện và nhà tổ vẫn giữ nguyên điêu khắc truyền thống Việt Nam. Chùa được xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 1984.
- Kiến trúc tổng hợp Á – Âu: mặt tiền La Mã, hoa văn Pháp, Thái, Miên, Chàm trên nền chùa Việt
- Bố cục chữ Quốc gồm bốn gian nối tiếp, khuôn viên 14.000m², dài 70m rộng 20m
- Hơn 60 pho tượng Phật bằng gỗ, đồng, đất nung, xi măng, phần lớn tạc cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20
- Chuông "Pháp Bảo" đúc tháng 5 năm 1854, khắc ba chữ "Vĩnh Trường Tự"
Sử tích
Đầu thế kỷ 19, nơi đây mới là một am nhỏ mái lá vách đất giữa quang cảnh hoang vu, do ông bà Bùi Công Đạt kiến tạo. Năm 1849, Hòa thượng Thích Huệ Đăng từ chùa Giác Lâm ở Gia Định về trụ trì, đứng ra tổ chức xây dựng am nhỏ ấy thành một ngôi đại tự. Ngoài việc lo kinh kệ, Hòa thượng còn tự tay gánh đất đắp nền cùng với các đạo hữu đến giúp. Ngài đặt tên chùa là **Vĩnh Trường**, lấy ý nguyện "Vĩnh cửu đối sơn hà, trường tồn tề thiên địa" — mong ngôi chùa bền lâu ngang với núi sông trời đất. Người dân quanh vùng đọc trại thành Vĩnh Tràng, và tên dân gian ấy còn dùng đến hôm nay.
Năm 1864, Hòa thượng Huệ Đăng viên tịch khi công trình còn dang dở và không có đệ tử kế truyền. Chùa trải qua một thời kỳ dài không có người trụ trì ổn định: Hòa thượng Minh Đề tịch năm 1878, Hòa thượng Quản Ân thay thế được ít lâu rồi đi du học Thái Lan, sư Minh Truyện về chủ trì một thời gian rồi cũng chuyển đi nơi khác. Cuối cùng bổn đạo phải họp bàn, nhờ Hòa thượng Tổ Từ Trung ở chùa Bửu Lâm, Mỹ Tho, đến thỉnh Hòa thượng Trà Chánh Hậu — hiệu Quảng Ân — về tiếp tục công việc dở dang của Tổ Huệ Đăng.
Năm 1907, Hòa thượng Chánh Hậu bắt đầu trùng kiến ngôi chùa và xây tầng một của gian chánh điện, chính là lần trùng kiến đã pha hòa cả nét kiến trúc Á lẫn Âu làm nên diện mạo nổi tiếng của chùa. Hòa thượng Lê Ngọc Xuyên kế thế: năm 1930 chỉnh trang nóc chùa và mặt dựng bốn phía, cuối năm ấy hoàn tất thêm ba gian cùng tầng hai của chánh điện; năm 1933 xây hai cổng tam quan cẩn sứ Trung Hoa và sứ Việt Nam hình long, lân, quy, phượng cùng vòng rào quanh chùa.