Chùa Tiên Châu
Thiền phái Liễu Quán · Vĩnh Long
Ấp Bình Lương, xã An Bình, tỉnh Vĩnh Long
Khởi đầu là am Bãi Tiên bằng tranh tre vách lá khoảng giữa thế kỷ 18; dựng lại bằng gỗ và mang tên Tiên Châu Di Đà Tự dưới thời Hòa thượng Hoàng Đức Hội (trụ trì 1858–1881)
Chùa Tiên Châu, tức Tiên Châu Tự, còn có tên là chùa Di Đà, là một trong những ngôi chùa cổ của tỉnh Vĩnh Long. Chùa nằm trên bãi Tiên bên tả ngạn sông Cổ Chiên, thuộc cù lao An Bình. Sách Đại Nam nhất thống chí chép: "Chùa Di Đà ở trước bãi Bích Trân, thuộc địa phận huyện Vĩnh Bình, do Hòa thượng Hoàng Đức Hội dựng, nước chảy vòng quanh, am viện thanh u, tục gọi chùa Tiên Châu, lại gọi là chùa Tô Châu." Tên bãi Tiên đến từ truyền thuyết những đêm trăng thanh gió mát có tiên nữ xuống trần tắm gội; vùng này nhiều rạch nhỏ ghe thuyền qua lại dễ dàng nên còn có tên bãi Bát Tân.
- Ngôi chùa do Hòa thượng Hoàng Đức Hội dựng có hình chữ tam với 96 cột gỗ tròn bằng danh mộc, kèo xuyên trính bằng căm xe và gõ đỏ
- Chính giữa nội điện là pho tượng Phật A Di Đà lớn bằng đất sét, phía sau đâu lưng là tượng Di Lặc
- Còn giữ bộ bao lam chạm Thập bát La hán cùng nhiều tranh, liễn đối chạm khắc từ thế kỷ 19
- Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia từ ngày 12/12/1994
Sử tích
Khoảng giữa thế kỷ 18, nơi bãi Tiên đã có một am nhỏ bằng tranh tre vách lá gọi là am Bãi Tiên. Người gầy dựng là Hòa thượng Giác Nguyên, gốc Thừa Thiên, đệ tử của Thiền sư Liễu Quán, tu theo Tịnh độ tông và thờ Phật A Di Đà. Sư trụ trì cho đến khi viên tịch năm 1801. Sau đó Ni sư Diệu Thiện đến chăm nom am, vận động tín đồ và khách thập phương quyên góp để cất lại, rồi đổi tên là chùa Bãi Tiên.
Chùa qua nhiều đời trụ trì: Giáo thọ Huỳnh Văn Lương trụ trì năm 1828, Hòa thượng Tăng Chiếu từ 1829 đến 1858, rồi đến lượt Hòa thượng Hoàng Đức Hội — pháp danh Tánh Minh, đời thứ 39 phái Lâm Tế dòng Liễu Quán — trụ trì từ 1858 đến 1881. Chính trong thời của Hòa thượng, nhờ những người buôn gỗ từ Campuchia về bán ở chợ Vĩnh Long hỷ cúng, ngôi chùa được tạo dựng lại bằng gỗ và mang tên Tiên Châu Di Đà Tự. Ngôi chùa ấy có hình chữ tam, gồm chánh điện, hậu tổ và hậu liêu nối liền nhau, tất cả 96 cột gỗ tròn bằng danh mộc, các kèo, xuyên, trính bằng căm xe và gõ đỏ do nghệ nhân địa phương cùng nghệ nhân từ Huế vào chạm trổ. Vì thế *Đại Nam nhất thống chí* ghi Hòa thượng Hoàng Đức Hội chính là người đã "dựng" chùa Tiên Châu.
Lần sửa đổi quan trọng nhất sau đó là vào năm Kỷ Hợi 1899, khi chùa được mở rộng thành bốn gian: tiền đường, chánh điện, trung đường và hậu tổ, mỗi gian làm theo kiểu tứ trụ nới rộng nhờ các kèo đấm kèo quyết, giàn trò bằng gỗ quý, mái ngói âm dương, xung quanh đóng vách bổ kho.
Chiến tranh đến với ngôi chùa hai lần. Khoảng năm 1945, quân đội Pháp tái chiếm Vĩnh Long và từ tàu chiến dàn trên sông Cổ Chiên nã đại bác lên bờ; đạn bay tới tấp vào chùa nhưng trúng các cột kèo, còn các tượng Phật không xây xát gì. Sau Tết Mậu Thân 1968, chùa lại hư hại nhiều. Ông Đốc phủ Võ Văn Châu đứng ra bán năm cây sao của chùa, đồng thời vận động tín đồ và khách thập phương lấy tiền trùng tu. Theo bản thiết kế của Hòa thượng Thiên Hương từ Sài Gòn đem về, nội điện vẫn giữ như cũ, còn mặt tiền dựng lại bằng bê tông; chùa sau đó dài 46m, rộng 20m, trên nóc có năm ngọn tháp, tháp giữa lớn hơn cả và treo biển Tiên Châu Tự.
Nội điện ngày nay tôn trí ở giữa tứ trụ một khánh thờ với pho tượng Phật A Di Đà lớn bằng đất sét, dưới là bộ tượng Tam Thế, tượng Thích Ca tọa thiền và Thích Ca sơ sinh; đâu lưng phía sau là tượng Di Lặc khá lớn. Chùa vẫn còn giữ được bộ bao lam chạm Thập bát La hán cùng nhiều tranh, liễn đối chạm khắc tinh tế có từ thế kỷ 19. Ngày 12 tháng 12 năm 1994, chùa Tiên Châu được công nhận là di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia. Năm 2009, cổng chùa được xây mới và toàn bộ ngôi chùa sơn phết lại.