Chùa Thanh Mai
Thiền phái Trúc Lâm · Hải Phòng
Tổ dân phố Thanh Mai, phường Nguyễn Trãi, thành phố Hải Phòng
Có từ thời Trần; được Đệ nhị tổ Pháp Loa mở mang thành chốn tổ khoảng năm 1329
Chùa Thanh Mai dựng trên sườn núi Tam Ban ở độ cao khoảng 200m, là chốn tổ gắn với Đệ nhị tổ Trúc Lâm Pháp Loa. Xá lị của ngài được táng trong Viên Thông bảo tháp phía sau chùa, và tấm bia dựng năm 1362 kể lại thân thế sự nghiệp ngài nay là bảo vật quốc gia. Chùa từng hoang phế nhiều thế kỷ, được phục dựng dần từ năm 1980 giữa một khu rừng phong đổi lá.
- Viên Thông bảo tháp dựng năm 1334 — nơi táng xá lị Đệ nhị tổ Pháp Loa
- Bia "Thanh Mai Viên Thông tháp bi" dựng năm 1362, bảo vật quốc gia đợt 5
- Tháp Phổ Quang (1702) và tháp Linh Quang (1703) cùng năm tháp mộ chưa rõ niên đại
- Chùa nằm giữa rừng phong trên sườn núi Tam Ban, hội chùa mùng 1 đến mùng 3 tháng Ba âm lịch
Sử tích
Chùa nằm ở cấp thứ hai của núi Phật Tích, còn gọi là núi Tam Ban vì ba cấp núi nối liền nhau thuộc cánh cung Đông Triều. Tên Thanh Mai được ghi trong hàng loạt văn bia còn lại: "Thanh Mai Viên Thông tháp bi" năm 1362, "Trùng tu Thanh Mai tự bi" năm 1609, "Trùng tu Phật Tích sơn Thanh Mai tự bi ký" năm 1707.
Ngôi chùa đã có từ thời Trần, nhưng trở thành đại danh lam dưới tay Pháp Loa (1284–1330), vị tổ thứ hai của thiền phái Trúc Lâm. Trong đời hành đạo, Pháp Loa dựng chùa Báo Ân và chùa Quỳnh Lâm, lập các am Hồ Thiên, Chân Lạc, Yên Mã, Vĩnh Khiêm, Hạc Lai, đồng thời mở rộng chùa Côn Sơn và chùa Thanh Mai. Nghiên cứu cho thấy ngài không phải người khởi dựng Thanh Mai mà là người biến chùa thành một chốn tổ của phái Trúc Lâm; người kế nhiệm là Huyền Quang (1254–1334) tiếp tục công việc ấy.
Phía sau chùa là Viên Thông bảo tháp dựng năm 1334, nơi táng xá lị Pháp Loa. Bên tháp có tấm bia dựng năm 1362, hơn ba mươi năm sau ngày ngài viên tịch, ghi lại thân thế và sự nghiệp của vị tổ thứ hai; tấm bia nay được công nhận bảo vật quốc gia đợt 5. Trong vườn tháp còn tháp Phổ Quang dựng năm Chính Hòa thứ 23 (1702), tháp Linh Quang năm Chính Hòa thứ 24 (1703) và năm ngôi tháp mộ chưa xác định niên đại; trong chùa còn bốn tấm bia thời Trần, Mạc và Lê.
Chiến tranh và thời gian đã xóa gần hết ngôi chùa cổ: còn lại gạch, chân tảng và vài đoạn tường của khoảng chín nền chùa cũ. Từ năm 1980 chùa được khôi phục dần từng hạng mục, năm 1992 được công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Năm 1994, Đại đức Thích Chí Trung khi ấy hai mươi tuổi về trụ trì giữa cảnh đổ nát; Năm 2005, Nhà nước đầu tư khoảng 3 tỷ đồng xây chính điện mười gian, rộng chừng 180m².
Ngày viên tịch của Tổ Pháp Loa, mùng 3 tháng Ba âm lịch, được lấy làm ngày hội chùa; hội mở từ mùng 1 đến mùng 3 với các nghi lễ giảng kinh, chay đàn, mộc dục. Bao quanh chùa là rừng phong; vào đông xuân, lá phong đổi màu rải kín con đường dẫn lên núi.