Chùa Phù Dung
Bắc tông · An Giang
Chân núi Bình San, phường Hà Tiên, tỉnh An Giang
Ngôi chùa hiện nay do Tổng đốc An Hà Doãn Uẩn cho dựng năm 1846; chùa Phù Dung cũ có từ thế kỷ 18 và bị quân Xiêm phá sập khoảng năm 1833–1834
Chùa Phù Dung nằm dưới chân núi Bình San, phường Hà Tiên, tỉnh An Giang. Theo sách Nghiên cứu Hà Tiên, tên chùa không đến từ hoa sen mà từ chữ "Pù Youn" — người Xiêm gọi núi là "pù", gọi người Việt là "youn" — nghĩa là vùng núi của người Việt. Ở Hà Tiên trước sau có hai ngôi chùa cùng mang tên này: chùa cũ ở tây nam núi Phù Dung nay còn lại nền và một ngôi tháp cổ, chùa mới do Doãn Uẩn dựng năm 1846 trên nền Tao đàn Chiêu Anh Các cách đó hơn 500m.
- Trên núi Bát Giác Sơn còn nền chùa Phù Dung cũ dài 12m, rộng 9m cùng ngôi tháp bát giác cao 5m khắc bia chữ Hán "Lâm Tế tam thập lục thế Ấn Đàm Lão Hòa Thượng chi tháp"
- Chính điện có bốn bức phù điêu lớn, mỗi tấm cao 1,3m ngang 2,3m, minh họa đản sanh – xuất gia – thuyết pháp – nhập niết bàn
- Phía sau chính điện là Ngọc Hoàng bửu điện thờ Ngọc Hoàng Thượng đế cùng Nam Tào, Bắc Đẩu — nét hiếm thấy ở chùa Nam Bộ
- Bên triền núi có ngôi mộ cổ bia chữ Hán "Từ Thành Thục nhân Mạc phủ Nguyễn thị chi mộ", gắn với chuyện tình Phù Dung được kể lại từ năm 1957
Sử tích
Bán đảo Hà Tiên xưa có rất nhiều đồi núi lớn nhỏ mang chung một tên là Phù Dung Vạn Sơn. Mãi đến thời Đô đốc Mạc Thiên Tích các ngọn núi mới có tên riêng bằng chữ Hán — Bình San, Tô Châu, Thạch Động — còn tên Phù Dung thu hẹp dần, cuối cùng dùng để gọi ngọn thứ ba cao 53m. Khoảng năm 1820, Trịnh Hoài Đức chép trong *Gia Định thành thông chí*: "Núi Phù Dung cách trấn thự về phía tây bắc hơn 1 dặm. Ở đây hang hố xanh rậm lâu đời; chùa Phù Dung ở phía tây nam chân núi, tiếng chuông mõ pha trộn, tiếng kệ kinh lẫn tiếng ồn ào của phố thị, thật là cảnh nửa tăng nửa tục."
Ngôi chùa mà Trịnh Hoài Đức nhắc tới không còn nữa. Từ năm 1820 trở về sau, trấn Hà Tiên trải ba cuộc tao loạn lớn: biến Lê Văn Khôi năm 1833 khiến tỉnh thành thất thủ và quân Xiêm tràn vào, quân Xiêm lại chia đường cướp phá năm 1842, rồi năm 1845 tướng Xiêm Chất Tri bắt giam Nguyễn Bá Hựu. Nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt, người Hà Tiên, cho rằng chùa bị quân Xiêm phá sập trong lần tao loạn đầu tiên, khoảng 1833–1834.
Năm 1969 người ta tìm lại được di tích ấy trên ngọn núi nay gọi là Bát Giác Sơn. Nền chùa dài 12m, rộng 9m — với kích thước đó, chùa xưa thực ra là một am nhỏ. Đào sâu xuống chừng ba tấc, người ta bắt gặp lư hương đồng, nhiều lọ sành sứ, một chum còn nguyên số gạo đã ẩm nát; đồ gia dụng còn nguyên vẹn như thế cho thấy chiến tranh đã ập đến bất ngờ. Cạnh nền chùa là ngôi tháp hình bát giác cao 5m, tường dày 1m, xây bằng vôi cát trộn ô dước và đường ngào, còn nguyên tấm bia đá khắc "Lâm Tế tam thập lục thế Ấn Đàm Lão Hòa Thượng chi tháp"; tấm biển chữ quốc ngữ đặt cạnh tháp ghi "Lâm Tế – 1662 – tháp 7 tầng – Ấn Đàm – Lão hòa thượng". Vị hòa thượng này sống cùng thời với Mạc Cửu.
Năm 1846, sau khi đánh đuổi quân Xiêm, Tổng đốc An Hà Doãn Uẩn cho cất một ngôi chùa khác ở đầu bắc núi Bình San, ngay trên nền nhà xưa của Tao đàn Chiêu Anh Các, và đặt tên là Phù Anh — ghép chữ Phù Dung với Chiêu Anh Các. Đời Thiệu Trị, *Đại Nam nhất thống chí* lại chép tên chùa là Phù Cừ vì chữ "Dung" phạm húy tên vua. Cả hai tên ấy đều không phổ biến; người dân vẫn gọi ngôi chùa mới bằng tên của ngôi chùa cũ.
Chùa hôm nay gồm một phần sân và hai phần thờ tách biệt. Ngoài sân là đài cao đặt tượng Quan Thế Âm bằng xi măng tô trắng. Chính điện thờ Thích Ca Mâu Ni với hai đại đệ tử A Nan và Ca Diếp, treo bốn bức phù điêu lớn kể bốn chặng đời đức Phật. Sau chính điện, qua một khoảnh sân nhỏ, là Ngọc Hoàng bửu điện. Đi theo lối nhỏ men triền núi bên trái chừng 20m sẽ gặp một ngôi mộ cổ, bia khắc "Hoàng Việt — Hiển tỷ Từ Thành Thục nhân Mạc phủ Nguyễn thị chi mộ". Câu chuyện tình gắn với ngôi mộ này xuất hiện trong sách vở từ năm 1957, khi Trần Thêm Trung cho in *Hà Tiên địa phương chí*; theo Trương Minh Đạt, tấm bia ghi đủ tên họ, phẩm vị và nơi làm vợ nên là bia của một người trần tục, không phải của một người tu hành.