Chùa Bửu Hưng (chùa Cả Cát)
Thiền phái Lâm Tế · Đồng Tháp
Xã Hòa Long, tỉnh Đồng Tháp
Thiền sư Nguyễn Đăng dựng thảo am khoảng nửa cuối thế kỷ 18; được vua Gia Long ban biển Sắc tứ Bửu Hương Tự năm 1803
Chùa Bửu Hưng, tục gọi là chùa Cả Cát, tọa lạc ở xã Hòa Long, tỉnh Đồng Tháp, trong một khu vườn rộng phía trước có con rạch nhỏ. Chùa xây theo kiểu chữ tam, ngang 15m và dài 50m, gồm tiền đường, chánh điện và nhà Hậu Tổ, ngăn cách bởi một sân thiên tỉnh hình chữ khẩu có Đông lang và Tây lang hai bên. Đây là một trong những ngôi cổ tự có giá trị lịch sử và nghệ thuật cao nhất vùng Sa Đéc – Lai Vung, được công nhận là di tích quốc gia ngày 3 tháng 8 năm 2007.
- Tượng Phật A Di Đà bằng gỗ cao 2,5m do triều đình nhà Nguyễn gửi vào cúng dường năm Minh Mạng thứ 2 (1821)
- Chùa xây kiểu chữ tam, ngang 15m dài 50m, còn hơn 100 cây cột gỗ to và quý cùng ba bộ cửa gỗ chạm rồng và hoa lá
- Khu tháp cổ trong vườn trúc còn tháp của Thiền sư Nguyễn Đăng, tháp Thiền sư Tịnh Châu và 10 ngôi Bảo đồng của 10 nhà sư đời sư Tịnh Châu
- Di tích quốc gia từ ngày 3/8/2007; vẫn giữ diện mạo của lần đại trùng tu 1909–1911
Sử tích
Vào khoảng nửa cuối thế kỷ 18, Thiền sư Nguyễn Đăng từ miền Trung vào đây dựng lên một thảo am thờ Phật. Hành trạng của nhà sư không còn ghi chép; dựa vào bài thơ ngũ ngôn khắc trên mộ — "Vạn lý kinh đô biệt… Dạ nguyệt độc chinh Nam" — người ta đoán sư là người Thuận Hóa đi đường bộ vào Nam, và tu theo pháp môn của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn. Sau khi sư viên tịch, Thiền sư Tịnh Châu trên đường hoằng hóa ghé qua rồi ở lại tu tập. Thảo am được trùng tu lớn hơn nhưng vẫn bằng cây lá đơn sơ. Thời của sư có mười vị tăng sĩ đến xin học đạo; để có chỗ cho họ tu học, sư dựng thêm tăng đường bằng cây lá ở phía tây và cho đào một ao chứa nước bên phía đông để tăng chúng dùng trong mùa hạn.
Năm 1803, Thiền sư Tiên Thiện Từ Lâm (1780–1859), thuộc phái Lâm Tế đời thứ 37, từ chùa Sắc tứ Long Tuyền ở Thạnh Phú đến trụ trì. Cũng trong năm ấy chùa được vua Gia Long phong là Sắc tứ Bửu Hương Tự. Tương truyền có lần bị quân Tây Sơn đánh đuổi, chúa Nguyễn Phúc Ánh đã phải chạy vào chùa trú ẩn; nhớ ơn, sau khi lên ngôi, nhà vua ban biển sắc tứ cho chùa và phong cho sư Tiên Thiện Từ Lâm hiệu Từ Dung hòa thượng. Dần dần, nhà sư cho xây ngôi chùa đơn sơ thành một ngôi đại tự kiên cố bằng gỗ quý.
Đến đời trụ trì thứ tám là Đại sư Như Lý Thiên Trường (1887–1969), chùa lại được trùng tu lớn. Trong những năm 1909–1911, sư cho sửa sang chánh điện, chạm trổ thêm bao lam Thần vọng, biển thờ, hoành phi, câu đối, chỉnh sửa khu mộ tháp và trồng thêm cây cảnh. Chùa còn giữ diện mạo của lần đại trùng tu ấy đến hôm nay. Sau đó sư giao chùa lại cho đệ tử là Nguyên Nghiêm Thiện Truyền rồi trở về tu ở chùa Bửu Lâm, Mỹ Tho.
Ngày 3 tháng 7 năm 1947, máy bay Pháp ném bom xuống chùa làm hư hại rất nhiều, riêng nhà Hậu Tổ sụp đổ hoàn toàn. Năm 1950, tăng chúng góp công góp của trùng tu các chỗ hư hại, dựng lại nhà Hậu Tổ và thu gọn Đông lang, Tây lang. Dưới thời Thượng tọa Thích Minh Trí, trụ trì đời thứ 15 từ năm 1993, chùa dựng thêm Quan Âm đài, cổng tam quan và tường nhà Hậu Tổ, trùng tu chánh điện, san lấp mặt bằng và xây tường rào.
Ngoài pho tượng A Di Đà bằng gỗ cao 2,5m mà triều đình nhà Nguyễn gửi vào cúng dường năm Minh Mạng thứ 2, chùa còn giữ hai tượng Hộ pháp, bộ tượng Thập Điện Diêm Vương, hơn một trăm cây cột gỗ to và quý, cùng ba bộ cửa gỗ lớn bốn cánh chạm rồng và hoa lá được làm đầu thế kỷ 20 và dựng ở vách sau chánh điện trong lần trùng tu 1909–1911. Trong vườn trúc cạnh chùa là khu tháp cổ, lối vào có đôi liễn chữ Hán "Bật thảo điêu tàn do vị tử — Đàm hoa lạc khứ hữu dư hương".