Chùa Bổ Đà
Thiền phái Lâm Tế · Bắc Ninh
Tổ dân phố Thượng Lát, phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh
Dấu vết từ thời Lý thế kỷ XI; quần thể chùa Tứ Ân dựng lại thời Lê Trung hưng, đời Lê Dụ Tông (1705–1728)
Chùa Bổ Đà (tên chữ là Tứ Ân Tự) nằm trên núi Phượng Hoàng bên bờ tả sông Cầu, là chốn tổ của thiền phái Lâm Tế, chịu ảnh hưởng của dòng Trúc Lâm Yên Tử. Chùa thờ Tam giáo và giữ lối kiến trúc hiếm gặp ở Bắc Bộ: tường đất nện, tường tiểu sành, đường đi kiểu chữ Lục. Vườn tháp gần 8.000m² với khoảng một trăm ngọn tháp là nơi yên nghỉ của hơn một nghìn vị cao tăng.
- Kiến trúc "nội thông ngoại bế": tường bao, cổng và nhiều công trình xây bằng đất nện và tiểu sành
- Vườn tháp gần 8.000m² với khoảng một trăm ngôi tháp, được xem là lớn nhất trong các cổ tự Việt Nam
- Gần 2.000 mộc bản kinh Phật khắc trên gỗ thị năm 1740, bảo vật quốc gia năm 2017
- Di tích quốc gia đặc biệt năm 2016; một trong 12 cụm di tích được UNESCO ghi danh năm 2025
Sử tích
Sách "Bắc Ninh toàn tỉnh địa dư chí" chép: núi Bổ Đà là ngọn núi bậc nhất của huyện Việt Yên, nhiều ngọn liên tiếp quây quần, ngọn cao nhất gọi riêng là núi Phượng Hoàng; trên núi có chùa Tam Giáo và miếu Thạch tướng quân. Dấu vết vật chất cùng thư tịch còn lại cho biết chùa đã có từ thời Lý, thế kỷ XI, rồi được dựng lại vào thời Lê Trung hưng dưới triều Lê Dụ Tông.
Người mở mang quần thể như hôm nay là sư tổ Như Thị, tên tục Phạm Kim Hưng. Dưới niên hiệu Bảo Thái (1720–1729), sư tổ đứng ra trùng tu toàn bộ khu chùa, việc đầu tiên là tu bổ Quan Âm đường cổ, rồi dựng thêm các nếp nhà và cổng, biến nơi đây thành một trung tâm Phật giáo lớn của thiền phái Lâm Tế. Theo lời trụ trì hiện nay, kể cả sư tổ, đã có mười chín vị tổ nối nhau tu hành tại đây. Chùa thờ cả Tam giáo, điều hiếm thấy ở chùa Việt. Đến đời hòa thượng Chiếu Không, năm Giáp Ngọ (1834) niên hiệu Minh Mạng, chùa xây thêm một ngôi hai gian bằng đá; niên hiệu Thiệu Trị lại đúc tượng Quan Thế Âm; đến niên hiệu Tự Đức, đệ tử Phả Thuần dựng tiền đường năm gian, hoàn chỉnh một quần thể tới trăm gian.
Chùa Bổ Đà khác với các chùa Bắc Bộ ở vật liệu và bố cục. Chùa theo lối "nội thông ngoại bế": bên trong các nếp nhà nối nhau, bên ngoài đóng kín. Tường bao, cổng và nhiều công trình xây hoàn toàn bằng đất nện theo lối trình tường; nhiều đoạn tường xếp bằng tiểu sành lấy từ làng gốm Thổ Hà cách đó vài cây số. Chùa chính Tứ Ân thiết kế kiểu "nội công ngoại quốc", mở tám cửa theo bát quái, đường đi bố trí hình chữ Lục để trời mưa đi từ nhà nọ sang nhà kia không ướt; toàn khu hiện có mười sáu tòa nhà lớn nhỏ với chín mươi hai gian. Tổng diện tích chùa chính khoảng 51.784m², chia làm khu vườn, khu nội tự và khu vườn tháp.
Vườn tháp nằm nghiêng theo triền núi trên gần 8.000m², bao quanh bằng bức thành xây đá núi, gạch chỉ và đất thó. Khoảng một trăm ngôi tháp ở đây, đa số ba bốn tầng, cao từ ba đến năm mét, là nơi tàng lưu xá lị và tro cốt của hơn một nghìn vị cao tăng từng tu hành tại chùa. Tháp của chư tăng gắn bình cam lộ trên tòa sen ở đỉnh, tháp của chư ni gắn một búp sen.
Trong kho cổ vật, quý nhất là bộ gần 2.000 mộc bản kinh Phật của thiền phái Lâm Tế, khắc trên gỗ thị năm 1740 đời Lê Cảnh Hưng; năm 2016 Tổ chức Kỷ lục Việt Nam ghi nhận đây là bộ mộc bản cổ nhất của dòng thiền này, và năm 2017 bộ mộc bản được công nhận Bảo vật quốc gia. Ngày 31 tháng 1 năm 1992, chùa được xếp hạng di tích kiến trúc - nghệ thuật cấp quốc gia; ngày 22 tháng 12 năm 2016, được công nhận Di tích quốc gia đặc biệt đợt 7 theo Quyết định số 2499/QĐ-TTg. Năm 2025, chùa Bổ Đà là một trong mười hai cụm di tích thuộc quần thể Yên Tử – Vĩnh Nghiêm – Côn Sơn, Kiếp Bạc được UNESCO ghi danh Di sản văn hóa thế giới.